Author Archives: Lạng Sơn
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình làm Trưởng ban chỉ đạo.
Ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc làm Phó Trưởng ban thường trực. 2 Phó Trưởng ban khác là lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và lãnh đạo Bộ Tài chính.
Các thành viên BCĐ là đại diện một số bộ, ngành liên quan.
BCĐ Trung ương có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc liên quan đến quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các giải pháp để đạt được mục tiêu của Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Đề án) và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Chương trình).
Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách có liên quan để thực hiện hiệu quả Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối hoạt động giữa các Bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương và các địa phương trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án.
Bên cạnh đó, giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, ngành cơ quan trung ương và các địa phương trong việc xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, điều hành Chương trình và triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng trong quá trình thực hiện.
Trưởng BCĐ Trung ương quy định Quy chế hoạt động của BCĐ Trung ương và phân công nhiệm vụ của các thành viên BCĐ.
Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 đặt tại Ủy ban Dân tộc, giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương và trực tiếp giúp việc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc – Phó Trưởng ban thường trực BCĐ Trung ương để quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; sử dụng biên chế của Ủy ban Dân tộc và được bố trí kinh phí hoạt động trong kinh phí thường xuyên của Ủy ban Dân tộc.
>> Quyết định số 1014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2020 về Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030: 1014-QĐ-TTg – 14-7-2020.signed.pdf
(Theo baochinhphu.vn)
Nghị định số 107/2020/NĐ-CP và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/9/2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2020. Cụ thể, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các sở chuyên môn; tiêu chí thành lập các phòng chuyên môn, văn phòng, chi cục và các tổ chức tương đương thuộc sở; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu sở, số lượng cấp phó của các đơn vị, tổ chức thuộc sở… Đáng lưu ý, Nghị định 107/2020/NĐ-CP quy định rõ số lượng phó giám đốc sở không cứng nhắc mà linh động theo số bình quân mỗi sở có 3 phó giám đốc. Căn cứ số lượng sở được thành lập và tổng số lượng phó giám đốc, UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể số lượng phó giám đốc của từng sở cho phù hợp. Riêng đối với Hà Nội và Tp.HCM, ngoài tổng số lượng phó giám đốc theo quy định tính bình quân chung thì mỗi thành phố được tăng thêm không quá 10 phó giám đốc.
Đối với ngành công tác dân tộc, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 9 như sau: Ban Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ban Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Và khoản 17 Điều 8: Trường hợp không tổ chức riêng Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ngoại vụ, dân tộc do Văn phòng Ủy ban nhân dân thực hiện.”
Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, trách nhiệm của Trưởng phòng, số lượng Phó Trưởng phòng các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố. Trong đó, Phòng Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Phòng Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Trường hợp không tổ chức riêng Phòng Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực dân tộc do Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện.
Chi tiết Nghị định 107/2020/NĐ-CP
Chi tiết Nghị định 108/2020/NĐ-CP
Ngày 15/5, tại Hà Nội, tại Phiên họp thứ 45, Ủy ban Thường vụ (UBTV) Quốc hội đã cho ý kiến về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (sau đây gọi tắt là Chương trình MTQG). Tham dự phiên họp có Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng; các đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội; lãnh đạo các Ủy ban của Quốc hội; lãnh đạo các bộ, ngành liên quan. Về phía Ủy ban Dân tộc (UBDT) có sự tham dự của Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến; Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm UBDT Lê Sơn Hải.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến khẳng định: Việc xây dựng Chương trình MTQG là cần thiết; tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG sẽ cơ bản giải quyết được những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc hiện nay; đáp ứng mong đợi của đồng bào DTTS.
“Chương trình sẽ góp phần thúc đẩy KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi phát triển nhanh, bền vững; tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững; giải quyết căn cơ hơn một số bức xúc của người DTTS sinh sống ở vùng đồng bào DTTS miền núi. Chương trình sẽ đạt được đa mục tiêu về KT-XH; quốc phòng – an ninh; đối ngoại; bảo vệ môi trường, sinh thái và đa dạng sinh học; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; là yếu tố đặc biệt quan trọng để củng cố và nâng cao niềm tin của đồng bào các DTTS đối với Đảng và Nhà nước; tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến khẳng định.
Theo Tờ trình của Chính phủ, Chương trình MTQG bao gồm 10 dự án và các tiểu dự án thành phần. Chương trình được thực hiện ở địa bàn vùng DTTS và miền núi là các xã, thôn có tỷ lệ hộ DTTS từ 15% trở lên, phân định thành 3 khu vực theo trình độ phát triển. Đối tượng thực hiện của Chương trình là: Thôn, bản, buôn, làng, ấp…; xã vùng đồng bào DTTS và miền núi. Các thành phần kinh tế trong vùng đồng bào DTTS và miền núi (hộ gia đình, cá nhân người DTTS; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn (ĐBKK); doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế, xã hội hoạt động ở địa bàn vùng ĐBKK). Các cơ quan hành chính các cấp tổ chức thực hiện Chương trình.
Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc (HĐDT) của Quốc hội Hà Ngọc Chiến cho biết: Thường trực HĐDT thống nhất về sự cần thiết đầu tư Chương trình MTQG để thể chế hóa Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới” và thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội “Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030”. “Thường trực HĐDT đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của UBDT (được Chính phủ giao chủ trì soạn thảo) và các bộ, ngành trong quá trình chuẩn bị, xây dựng Chương trình”, Chủ tịch HĐDT của Quốc hội Hà Ngọc Chiến đánh giá.
Thảo luận tại phiên họp, các đại biểu thống nhất, tán thành với sự cần thiết của Chương trình MTQG đối với sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi. Đồng thời, các đại biểu đánh giá cao Chính phủ, UBDT với tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đã xây dựng, hoàn thiện Chương trình MTQG. Các đại biểu cho rằng, để thực hiện tốt Chương trình MTQG cần quan tâm, xem xét các vấn đề, như: Tính toán kỹ lưỡng tính khả thi của từng dự án, tiểu dự án; các mục tiêu cần được cụ thể hóa; làm rõ cơ chế thực hiện; dự án nên phối hợp với dự án khác liên quan đến đồng bào DTTS; chú trọng tính đặc thù của từng vùng miền, dân tộc; đa dạng hóa nguồn lực; nâng cao vai trò trách nhiệm của chính quyền địa phương…
Một số đại biểu đề nghị Chính phủ lưu ý những chính sách cụ thể, như: Việc thực hiện Chương trình phải bảo đảm phù hợp văn hóa và môi trường sống của đồng bào DTTS; quan tâm giữ gìn tiếng dân tộc; đào tạo giáo viên người DTTS; quan tâm đến kinh tế lâm nghiệp gắn với rừng; thu hút doanh nghiệp đầu tư từ miền xuôi lên miền núi; quan tâm đến đường giao thông, gắn với sắp xếp lại dân cư…
Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng hoan nghênh và đánh giá cao Chính phủ với thời gian ngắn nhưng đã khẩn trương, nghiêm túc chấp hành Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ xây dựng Chương trình MTQG và cho rằng, hồ sơ của Chương trình MTQG đủ điều kiện trình Quốc hội. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị, Chính phủ báo cáo, giải trình thêm về phạm vi, giải pháp và một số vấn đề cụ thể thực hiện Chương trình MTQG; khẩn trương ban hành bộ tiêu chí phân định vùng DTTS và miền núi để làm căn cứ thực hiện Chương trình.
Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng khẳng định, việc thực hiện Chương trình MTQG thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó chính quyền địa phương phải đề cao trách nhiệm trong thực thi chính sách hiệu quả tại cơ sở. UBDT tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình. HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân tăng cường vai trò giám sát… để thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG, vì sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Ngày 27/5/2022, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã có văn bản đề nghị các ngành: sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sở Lao động Thương binh và Xã hội và Ban Dân tộc chủ động triến khai các nội dung liên quan theo chức năng nhiệm vụ được giao.
Trước đó, ngày 22/5, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã ký ban hành Nghị quyết số 517/NQ-UBTVQH15 về việc phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) giai đoạn 2021-2025 và năm 2022 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG).
Theo đó, UBTVQH quyết nghị phân bổ hơn 92.057 tỷ đồng kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW giai đoạn 2021-2025 cho các địa phương thực hiện 3 CTMTQG. Cụ thể, CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là trên 47.057 tỷ đồng; CTMTQG giảm nghèo bền vững là 18.000 tỷ đồng; CTMTQG xây dựng nông thôn mới là 27.000 tỷ đồng.
Đối với hơn 7.942 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW chưa đủ điều kiện phân bổ, UBTVQH đề nghị Chính phủ khẩn trương rà soát, hoàn thiện cơ sở pháp lý, phương án phân bổ báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định.
Đối với vốn NSTW năm 2022, UBTVQH quyết nghị phân bổ hơn 34.000 tỷ đồng NSTW cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Trong đó, CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là 14.429 tỷ đồng; CTMTQG giảm nghèo bền vững là 8.620 tỷ đồng; CTMTQG xây dựng nông thôn mới là 11.000 tỷ đồng.
Nghị quyết yêu cầu Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW giai đoạn 2021-2025, dự toán NSTW năm 2022 cho từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết của UBTVQH trước ngày 1/6/2022. Và giao Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ, giao kế hoạch vốn NSTW giai đoạn 2021-2025, dự toán NSTW năm 2022 và phân bổ vốn đối ứng từ ngân sách địa phương theo đúng quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, các Nghị quyết của QH, Nghị quyết của UBTVQH và quy định pháp luật có liên quan trước ngày 1/7/2022; khẩn trương triển khai các giải pháp đẩy mạnh tiến triển khai thực hiện 3 CTMTQG theo đúng Nghị quyết của QH, đảm bảo quản lý, sử dụng nguồn vốn đúng pháp luật, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao.
Nguyễn Hà Giang


