Author Archives: Lạng Sơn

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024

Ngày 19/11/2024, tại Trung tâm hội nghị tỉnh, đã diễn ra Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số (DTTS) tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024 với chủ đề “Các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đoàn kết, đổi mới sáng tạo, phát huy lợi thế, tiềm năng, hội nhập và phát triển bền vững”.

Các đại biểu dự đại hội

Dự đại hội về phía Trung ương có đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (UBDT); đại biểu các vụ thuộc UBDT. Đến dự đại hội có đại biểu Ban Dân tộc một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tiết mục văn nghệ chào mừng đại hội

Về phía tỉnh Lạng Sơn, dự đại hội có đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; đồng chí Hồ Tiến Thiệu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Đoàn Thị Hậu, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; lãnh đạo huyện ủy, UBND các huyện, thành phố, cùng 250 đại biểu, đại diện cho đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh.

Quang cảnh đại hội

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, dân số có trên 812.000 người. Trong đó, dân tộc (DT) Kinh chiếm 16,09% dân số, các DTTS chiếm 83,91% dân số. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện; 200 xã, phường, thị trấn, trong đó có 199 xã thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi. Sau 5 năm thực hiện Quyết tâm thư Đại hội đại biểu các DTTS tỉnh Lạng Sơn lần thứ III, tốc độ giảm nghèo của tỉnh đạt trên 2,9%/năm; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 56 triệu đồng/người/năm; toàn tỉnh đã hỗ trợ nhà ở cho 1.040 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 1.887 hộ; hằng năm tạo việc làm mới cho khoảng 15.000 – 17.000 lao động; 100% hộ nghèo, cận nghèo, người DTTS sống ở vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế, ước hết năm 2024 có 200 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế ước đạt 94,45%; số trẻ mầm non đến trường, học sinh đi học phổ thông được duy trì đạt tỷ lệ trên 99%. Bên cạnh đó, công tác phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý, phổ biến tình hình kinh tế – xã hội (KTXH) bằng tiếng DT được đẩy mạnh. Công tác DT, chính sách DT được cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở quan tâm, thực hiện hiệu quả. Các chương trình, chính sách DT và 03 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) giai đoạn 2021-2025 được triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, hiệu quả, nguồn lực đầu tư hỗ trợ của các chương trình, chính sách DT đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi…

Các đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm tiêu biểu, đặc sản của các huyện, thành phố

Tham luận tại đại hội, đại diện một số tập thể, cá nhân tiêu biểu đã trình bày, chia sẻ kinh nghiệm, cách làm hay, đề xuất giải pháp về công tác DT, chính sách DT, phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS với các nội dung về phát huy sức mạnh đại đoàn kết DT trong phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo; kết quả thực hiện bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch; phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào DTTS…

Đồng chí Hầu A Lềnh, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT phát biểu tại đại hội

Phát biểu tại đại hội, đồng chí Hầu A Lềnh, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT vui mừng và đánh giá cao những kết quả đồng bào các DTTS tỉnh Lạng Sơn đã đạt được trong thời gian qua. Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT đề nghị cấp ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn thực hiện hiệu quả Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác DT trong tình hình mới, phát huy tiềm năng, lợi thế, đẩy nhanh tiến độ xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo bảo đảm hoàn thành mục tiêu Chính phủ đã xác định. Tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào DTTS và miền núi, đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ người DTTS tại chỗ và cán bộ DTTS rất ít người. Kết hợp phát triển KTXH với đảm bảo quốc phòng, an ninh, tạo sự đồng thuận, xây dựng thôn bản đoàn kết, bình yên và phát triển. Đối với các đại biểu và đồng bào DTTS, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT mong muốn, dù khó khăn vất vả đến đâu cũng phải ưu tiên, tạo mọi điều kiện để cho con em được đến trường, tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác quốc phòng, an ninh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, đồng bào các DT phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của DT mình, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan; chuyển hóa các di sản và bản sắc DT trở thành nguồn lực, tài nguyên cho sự phát triển bền vững… Với lợi thế về vị trí địa lý, nhiều tiềm năng, người dân cần cù, thông minh, chịu thương, chịu khó, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT tin tưởng Lạng Sơn sẽ có nhiều sáng kiến phát triển đột phá, nhanh chóng trở thành tỉnh giàu về kinh tế, đậm đà bản sắc DT, vững về an ninh, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng bộ tỉnh cũng như mục tiêu trong Quyết tâm thư Đại hội đề ra.

Đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy phát biểu tại đại hội

Phát biểu tại đại hội, đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy bày tỏ đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác DT, chính sách DT giai đoạn 2024-2029. Đồng chí đề nghị các cấp ủy, chính quyền, Ủy ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tầng lớp Nhân dân và đồng bào DTTS trong tỉnh tiếp tục phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết, hăng hái thi đua, lao động sáng tạo, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác DT, phát huy hơn nữa vai trò của đồng bào các DTTS trong các phong trào thi đua yêu nước, phát triển KTXH, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia… qua đó, góp phần cùng cả tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Bên cạnh đó, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý, điều hành của chính quyền, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh về công tác DT, chính sách DT, đại đoàn kết toàn DT. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhất là kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trường học, trạm y tế một cách đồng bộ. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các CTMTQG, trong đó trọng tâm là CTMTQG phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030; làm tốt công tác giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh Nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc, tăng cường đối ngoại Nhân dân.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy trao bằng khen cho 2 cá nhân

Đồng chí Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT trao Bằng khen, Kỷ niệm chương cho các tập thể, cá nhân

Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh trao Bằng khen các tập thể, cá nhân

Nhân dịp này có 02 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS; 01 tập thể và 05 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện công tác DT và chính sách DT được tặng Bằng khen của Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT; 05 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển các DT”; 22 tập thể và 11 cá nhân được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2019-2024.

Để tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, Đại hội đại biểu các DTTS tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024 đã đề ra Quyết tâm thư, kêu gọi và phát động phong trào thi đua tới toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân các DT trong tỉnh quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2024-2029.

Đồng chí Đoàn Thị Hậu, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu bế mạc đại hội

Phát biểu bế mạc đại hội, đồng chí Đoàn Thị Hậu, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ công tác DT, chính sác DT, giai đoạn 2024-2029. Mục tiêu cụ thể đến năm 2029 cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; phấn đấu 80% xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1 đến 2%/năm; duy trì 100% xã đạt chuẩn tiêu chí quốc gia về y tế; phấn đấu 375 trường học đạt chuẩn quốc gia; tiếp tục thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về trình độ phát triển KTXH của đồng bào DTTS so với bình quân chung của tỉnh; tạo điều kiện thuận lợi để các hộ gia đình vùng đặc biệt khó khăn được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục chất lượng cao; tiếp tục nâng cao các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Cơ bản hoàn thành CTMTQG phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi, giai đoạn 2021-2030…/.

Khánh Ly

Người Hoa

NGƯỜI HOA

Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.
Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ…
Dân số: 749.466 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán – Tạng).

Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.

92bd424e e927 46a2 ae1d b22473b29efa 201606060
Sản phẩm của nghề điêu khắc đá của người Hoa ở thành phố Biên Hoà, tỉnh Ðồng Nai.

Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính, ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán… Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (thành phố Hồ Chí Minh)… Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ “tín”.

Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu… Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại… Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.

Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng “lục phủ, ngũ tạng”. Các loại trà sâm, hoa cúc… là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.

Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo “sườn xám” may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc…), bông tai, dây chuyền… Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.

b1305f31 a573 49e7 93f9 4bc32fa4982e 201606061
Múa Lân – Sư tử – Rồng là hình thức sinh hoạt văn nghệ truyền thống của người Hoa thường tổ chức từ ngày 23 tháng chạp (ngày ông Táo lên trời đến ngày 15 tháng giêng (tết Nguyên tiêu) tại các chùa. Người Hoa chuẩn bị kỹ càng trang phục trước khi múa Lân.

Ở: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.

Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa…

Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.

Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.

Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.

Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).

Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.

Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.

260f157a 624f 4498 ba6c 5b78d4fc607d 201606062
Học chữ Hoa – một nhu cầu bức thiết của người Hoa ở Việt Nam đã được Ðảng và Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện. Hiện nay học chữ hoa đang phổ biến rộng rãi trong cư dân người Hoa ở các địa phương.

Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài…) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm…)

Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.

Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.

Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch… với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt…), chập choã… Hát “sơn ca” (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các “nhạc xã”.

Múa lân, sư tử, rồng… là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam – NXB Giáo dục)

Dân tộc Dao

NGƯỜI DAO

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 891.151 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông – Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

b16ed8fb e3cc 45d0 830d be15b98fc3f8 201606060
Ở các xóm Dao thường có thợ rèn sửa chữa công cụ. Lò rèn chỉ có kìm, de, búa và ống bễ. ống bễ là một khúc gỗ khoét rỗng (1m x 0,30 – 0,40m), nằm ngang để quạt gió. Người khách thường giúp thợ rèn kéo bễ.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ – thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai… Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu…

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

22f1b33b ae76 43e7 a210 322a4145a6b9 201606061
Phụ nữ Dao đỏ búi tóc vấn khăn lên đỉnh đầu. Trang phục của họ phần cổ áo thêu hoa văn sặc sỡ, riêng chiếc yếm ngực còn gắn những bông hoa tám cánh chạm bằng bạc.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

47607679 3d85 4850 b0a5 376962a38c73 201606062
Nhà người Dao ở Lai Châu.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.

db5aecc3 b143 4854 a4af c6c229dd651c 201606063
Cấp sắc là nghi lễ truyền thống của những người đàn ông Dao đến tuổi trưởng thành. Trong ảnh thầy cúng đang làm lễ cấp sắc.

Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam – NXB Giáo dục)

Dân tộc Nùng

NGƯỜI NÙNG

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín…
Dân số: 1.083.298 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (ngữ hệ Thái – Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc…

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

10500925 nung2 15 10 31

Bếp của người Nùng gồm 2 phần: phần ngoài đặt 3 ông đầu rau hoặc kiềng để nấu ăn và sưởi ấm, còn phần trong là bếp lò đắp bằng đất sét đặt chảo to để nấu cám lợn.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh…

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương… Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

10500891 nung3 15 10 31

Mỗi dịp tết người Nùng đều làm nhiều loại bánh. Phổ biến các loại bánh được chế biến bằng gạo xay trên các cối xay bằng đá.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thương sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).

Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)… và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh… Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày – Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co…

10500751 nung5 15 10 31

Mang đồ dẫn cưới sang nhà gái.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam – NXB Giáo dục)

Thịt chua Cường Hoài

Thịt Chua của người Thái mang đậm hương vị truyền thống đặc trưng, trải quá bao nhiêu thế hệ, phương thức chế biến thịt chua của dân tộc Thái kết hợp cùng quá trình công nghệ sản xuất tiên tiến tiến, hiện đại. Với tiêu chí giữ được nguyên vện mùi vị của từng nguyên liệu, từ vị ngọt thơm của thịt heo được chọn lọc kỹ lưỡng, cho đến hương thơm của thính gạo, mang đến trải nghiệm ẩm thực khó quên cho mọi thực khi thưởng thức!

 

 

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

CƯỜNG HOÀI

Địa chỉ: Xã Kim Sơn. Huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
Điện thoại: 0979.094.278
Email:………
Website:……

Mắm ruốc Cửa Lò

Cứ đến khoảng tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch hàng năm, ngư dân vùng biển Cửa Lò lại nô nức rủ nhau ra khơi làm mắm. Nước mắm Cửa Lò được dùng làm nước chấm của nhiều loại, ăn kèm, chế biến nhiều món ăn khác như: thịt ba chỉ om sấu, ba rọi om sấu, ba rọi om sấu…

Khi có dịp về thăm quê Bác, những món ăn hấp dẫn nơi đây sẽ giúp bạn phần nào hiểu thêm về đời sống văn hóa của cư dân nơi đây. Và nếu bạn chọn Nghệ An là điểm đến cho hành trình khám phá ẩm thực của mình. Bạn nên chọn nơi lưu trú vừa thuận tiện về vị trí địa lý vừa thuận tiện về dịch vụ và tiện ích.

 

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

HỢP TÁC XÃ ……….

Địa chỉ:…..
Điện thoại:….
Email:………
Website:……