Author Archives: Lạng Sơn

Tổng kết công tác dân tộc, các chính sách dân tộc năm 2023

Chiều 10/1, Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác dân tộc, chính sách dân tộc năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, Đoàn Thanh Sơn phát biểu tại Hội nghị
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Đoàn Thanh Sơn phát biểu tại Hội nghị

Theo báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn, trong năm 2023, công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng mục đích, đúng đối tượng và đạt nhiều kết quả tích cực. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 (gọi tắt là Chương trình 1719) tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt.

Cụ thể, kết quả giải ngân nguồn vốn Chương trình 1719 năm 2023 đối với nguồn vốn đầu tư phát triển đạt gần 548 tỷ đồng (đạt 96% kế hoạch). Thực hiện hỗ trợ nhà ở cho 169 hộ DTTS nghèo, hộ nghèo dân tộc Kinh; hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi nghề cho 587 hộ; hỗ trợ đầu tư 28/7 công trình nước sinh hoạt tập trung, vượt 400% kế hoạch; thực hiện hỗ trợ 14 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, 24 dự án mô hình chăn nuôi, 30 dự án mô hình trồng trọt; đầu tư cứng hóa trên 70 km đường đến trung tâm xã, đường liên xã, xây dựng 78 công trình giao thông nông thôn…

Ông Vi Minh Tú, Trưởng Ban Dân tộc Lạng Sơn phát biểu tại Hội nghị
Ông Vi Minh Tú – Trưởng Ban Dân tộc Lạng Sơn phát biểu tại Hội nghị

Các chính sách phát triển văn hóa – xã hội; bảo vệ môi trường được thực hiện hiệu quả. Công tác y tế, giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực được quan tâm. Các chính sách dân tộc được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng mục đích, đúng đối tượng, đạt nhiều kết quả tích cực, qua đó đã góp phần quan trọng vào kết quả chung về phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của Nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Vi Minh Tú – Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn cho biết: Trong năm 2023, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo về công tác dân tộc, thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo thực hiện thông qua các chương trình, kế hoạch, các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách của Trung ương và của tỉnh.

Các Chương trình MTQG tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt. Các chính sách phát triển văn hóa – xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng mục đích, đúng đối tượng, đạt nhiều kết quả tích cực. Qua đó đã góp phần quan trọng vào kết quả chung về phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của Nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Toàn cảnh Hội nghị
Toàn cảnh Hội nghị

Tại  Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận làm rõ những kết quả đạt được, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp triển khai thực hiện các quy định về quản lý, tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Đoàn Thanh Sơn đã biểu dương những kết quả trong công tác dân tộc và chính sách dân tộc mà Ban Dân tộc tỉnh đã đạt được thời gian qua. Ông Đoàn Thanh Sơn đề nghị, thời gian tới, Ban Dân tộc tỉnh cần tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở về công tác dân tộc; nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân về vị trí, vai trò của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc.

Đồng thời, quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/01/2024 của UBND tỉnh phát động thi đua thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh năm 2024 với chủ đề: “Siết chặt kỷ cương, tăng cường trách nhiệm, quyết liệt hành động, sáng tạo bứt phá”, chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành trong hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án và chính sách dân tộc, đặc biệt là Chương trình MTQG 1719. Bám sát vào tiêu chí xây dựng nông thôn mới, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các xã nhằm tạo sự đồng tình, thống nhất ủng hộ của Nhân dân trong xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, Đoàn Thanh Sơn cũng yêu cầu Ban Dân tộc Lạng Sơn tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vận động đồng bào DTTS chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua việc lồng ghép các chương trình, dự án, chính sách về công tác dân tộc. Tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đại biểu các DTTS tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024; tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai ngay những biện pháp, giải pháp cụ thể, đồng bộ, hiệu quả để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tăng tỷ lệ giải ngân vốn Chương trình MTQG 1719.

Trưởng Ban Dân tộc Vi Minh Tú trao Giấy khen cho các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc trong năm
Trưởng Ban Dân tộc Vi Minh Tú trao Giấy khen cho các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc trong năm

Nhân dịp này, đã có nhiều tập thể, cá nhân được nhận Giấy khen của Trưởng Ban Dân tộc tỉnh về thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ và công tác dân tộc năm 2023.

Lạng Sơn: Triển khai nhiều chính sách nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(PLVN) – Năm 2023, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đạt nhiều kết quả tích cực. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 2 huyện nghèo, 5 huyện biên giới; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, với 07 dân tộc chủ yếu là: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 19,28%; quy mô nền kinh tế nhỏ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; hạ tầng còn khó khăn…. Do đó, tỉnh xác định việc triển khai thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng tâm.

Trong năm 2023, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành kế hoạch số 59 /KH-UBND, trong đó tập trung, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội có trọng tâm, trọng điểm đối với vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn, đảm bảo để các xã, thôn thoát nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS &MN trên địa bàn tỉnh đạt mục tiêu giảm bình quân 3,0%/năm.

Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện kịp thời và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. (Ảnh; Lê Hanh)

Năm 2023, tỉnh cũng phấn đấu đạt mục tiêu 05 xã thoát khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn 01 xã; huyện Bình Gia 01 xã; huyện Văn Quan: 01 xã; huyện Lộc Bình: 01 xã; huyện Đình Lập: 01 xã; 24 thôn thuộc xã khu vực I, II thoát khỏi địa bàn thôn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn là 04 thôn; huyện Chi Lăng là 10 thôn; huyện Hữu Lũng là 02 thôn; huyện Đình Lập là 06 thôn; huyện Văn Lãng là 02 thôn.

Ông Lương Trọng Quỳnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cho biết: “Việc thực hiện phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn luôn bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả và kịp thời giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, tổ chức triển khai thực hiện, phấn đấu hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ đề ra”.

Trong năm qua, tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho đồng bào DTTS và miền núi. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)
Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)

Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng DTTS&MN và các đơn vị sự nghiệp công của lĩnh vực dân tộc, bao gồm việc đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống và đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp mạng lưới chợ vùng đồng bào DTTS&MN.

Đối với giáo dục, tỉnh tăng cường đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Bên cạnh đó, bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học; phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng DTTS&MN. Tăng cường thực hiện chính sách đầu tư y tế xã đạt chuẩn, mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hộ dân tộc thiểu số;

Chăm sóc cải thiện sức khoẻ của người DTTS bằng công tác y tế cơ sở để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào DTTS&MN. Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội nhằm nâng cao đồi sống cho đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn.

Cùng với đó, tỉnh cũng chú trọng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức của đồng bào về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo là những đối tượng có tiếng nói trong địa bàn thôn, bản để họ trực tiếp vận động đồng bào tích cực tham gia giáo dục pháp luật ; nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng cho vùng đồng bào DTTS&MN về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Để thực hiện các dự án này, Ban Dân tộc tỉnh là đầu mối thống nhất theo dõi, đôn đốc, tổng hợp các chính sách dân tộc; đề xuất và tham gia thẩm định chính sách, các dự án đầu tư liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung trong Kế hoạch, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu đã đề ra. Tiến hành sơ kết, đánh giá các chỉ tiêu trong Kế hoạch, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính rà soát, đề xuất, điều chỉnh bổ sung các dự án đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế, báo cáo UBND tỉnh.

Huy động cả hệ thống chính trị tập trung triển khai tốt điều tra, thu thập thông tin thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024

Ngày 01/7/2024, cùng với các địa phương trong cả nước, Lạng Sơn đồng loạt ra quân thu thập thông tin Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024. Tạp chí Con số và Sự kiện có bài phỏng vấn Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh về thực trạng kinh tế – xã hội đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và công tác triển khai Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 nói riêng tại địa bàn.
Phóng viên: Phó Chủ tịch cho biết vài nét về thực trạng tình hình kinh tế – xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương? 

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh:
Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, với diện tích 8.310,2 km2. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 10 huyện và 01 thành phố loại II; 200 đơn vị hành chính cấp xã với 1.646 thôn, tổ dân phố. Dân số của Tỉnh năm 2023 là 807,3 nghìn người, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, gồm các dân tộc như: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông… chiếm khoảng 83,91% dân số toàn tỉnh; phần lớn dân số sống ở khu vực nông thôn, miền núi với 76,83%.

Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền của Tỉnh đã quan tâm thực hiện công tác dân tộc, ưu tiên chăm lo cả vật chất lẫn tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời tạo mọi điều kiện để đồng bào phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Nhiều chương trình, dự án, chính sách dân tộc được triển khai hiệu quả, trong đó các Chương trình mục tiêu quốc gia (Giảm nghèo bền vững; Xây dựng nông thôn mới và Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) được tập trung tổ chức thực hiện, phát huy hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.
Năm 2023, kinh tế của tỉnh Lạng Sơn phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 7% so với năm 2022, trong đó: Nông, lâm nghiệp tăng 6,55%; Công nghiệp – xây dựng tăng 8,18%; Dịch vụ tăng 6,77%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. GRDP bình quân đầu người đạt 59,8 triệu đồng/người/năm.

Nhờ sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền của Tỉnh trong công tác dân tộc, đời sống vật chất và tinh thần
của đồng bào từng bước được nâng lên, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc, đổi mới
Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông đạt 96,1%; tỷ lệ thôn có đường ô tô đến trung tâm thôn được cứng hóa đạt 80,5%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98%; tỷ lệ dân cư thành thị sử dụng nước sạch đạt 99,9%; 100% xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 98,31%, đã có 285 trường học đạt chuẩn quốc gia.

Công tác xây dựng nông thôn mới cũng đạt những kết quả tích cực. Đến nay toàn Tỉnh có 98 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 24 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, số tiêu chí bình quân đạt 14,08 tiêu chí/xã. Toàn tỉnh còn 12.397 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 6,02%, giảm 2,9% so với năm 2022; có 18.438 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 8,96%; tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số là 95% trên tổng số hộ nghèo, giảm 0,23% so với năm 2022; tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên tổng số hộ dân tộc thiểu số là 7,05%, giảm 3,37% so với năm 2022.

Công tác chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân luôn được Tỉnh quan tâm và đạt kết quả đáng ghi nhận. Toàn tỉnh Lạng Sơn hiện có 33,3 giường bệnh/vạn dân; 11,3 bác sĩ/vạn dân; tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%; 100% người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế; 100% xã, phường, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã.

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế – xã hội của tỉnh Lạng Sơn vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế. Ngoài yếu tố khó khăn đặc thù của tỉnh biên giới như quy mô kinh tế nhỏ, vốn đầu tư ít, trình độ dân trí không đồng đều; địa hình miền núi bị chia cắt phức tạp, khó thu hút đầu tư các nhà đầu tư lớn, thì kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội tuy đã được quan tâm đầu tư xây dựng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng cao, biên giới; tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số còn cao (chiếm 95% tổng số hộ nghèo), kết quả giảm nghèo chưa bền vững; quy mô sản xuất, canh tác của đồng bào còn nhỏ lẻ, chưa hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung; chất lượng giáo dục và đào tạo ở một số nơi, đặc biệt là những vùng khó khăn chưa được cải thiện nhiều; cơ sở vật chất, hạ tầng giáo dục được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu; tệ nạn xã hội, an ninh, trật tự vùng biên giới còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.

Trước tình hình đó, tỉnh Lạng Sơn đã và đang tập trung chỉ đạo tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là tại các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới. Chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện lồng ghép các nguồn vốn Trung ương, các Chương trình mục tiêu quốc gia kết hợp với ngân sách địa phương. Đồng thời triển khai các chương trình, chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân.

Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc, đổi mới. Nhiều nét văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp được giữ gìn và phát huy. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững.

Phóng viên: Từ ngày 01/7/2024, Tổng cục Thống kê sẽ tiến hành Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024. Cuộc điều tra này có ý nghĩa như thế nào đối với việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của địa phương trong giai đoạn tới, thưa Phó Chủ tịch?

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh:
Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024 nhằm mục đích cung cấp toàn diện thông tin về dân số và phân bố dân cư, tiếp cận cơ sở hạ tầng, kinh tế, tình trạng nghèo đói, an sinh xã hội, văn hóa, giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; y tế, vệ sinh môi trường nông thôn; cán bộ đảng viên; di cư tự do; tôn giáo, tín ngưỡng; an ninh nông thôn vùng dân tộc thiểu số. Đây sẽ là cơ sở căn bản hình thành hệ thống thông tin, số liệu thống kê, phản ánh thực trạng của 53 dân tộc thiểu số, phục vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc; điều hành, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh.

Cuộc điều tra này không chỉ hướng đến việc đánh giá trình độ phát triển của các dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung của cả nước, mà còn đánh giá sự bình đẳng giữa các dân tộc. Do đó, kết quả cuộc điều tra làm tiền đề để Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lạng Sơn và chính quyền các cấp xây dựng chính sách dân tộc, góp phần khuyến khích, hỗ trợ để đồng bào dân tộc phát huy nội lực, giảm bớt sự chênh lệch giữa trình độ phát triển của các dân tộc.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh đánh giá kết quả điều tra 53 dân tộc sẽ làm tiền đề
để Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lạng Sơn và chính quyền các cấp xây dựng chính sách dân tộc tại địa phương
Cuộc điều tra sẽ đưa ra các số liệu, thông tin tin cậy giúp không chỉ các cơ quan Trung ương mà còn giúp các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng có được đánh giá chính xác về kết quả thực hiện các chính sách dân tộc và xây dựng định hướng chiến lược phát triển đến năm 2030 cũng như các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Phóng viên: Để thực hiện thành công Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Phó Chủ tịch có những lưu ý gì trong thực hiện thu thập thông tin tại địa bàn, đặc biệt về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp giữa chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan?

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh:
Để thực hiện hiệu quả cuộc Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thì sự vào cuộc, quan tâm, phối hợp của các sở, ban, ngành, địa phương trong triển khai thực hiện cuộc điều tra có vai trò rất quan trọng. Bên cạnh đó, Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn phối hợp chặt chẽ với Cục Thống kê, các sở, ban, ngành và chính quyền các cấp triển khai các biện pháp nghiệp vụ, áp dụng công nghệ thông tin để thực hiện tốt phương án điều tra. Bên cạnh việc triển khai nghiêm túc các công đoạn điều tra, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để chính quyền cơ sở và bà con dân tộc thiểu số đồng tình phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác giúp cuộc điều tra đạt kết quả tốt nhất. Trong đó cần tập trung một số công việc chủ yếu sau:

Thứ nhất, giám sát viên từ cấp tỉnh đến huyện, tổ trưởng điều tra và điều tra viên tham dự đầy đủ, nghiêm túc các buổi tập huấn nghiệp vụ điều tra, nghiên cứu kỹ tài liệu, liên hệ tình hình thực tế của địa phương để nắm vững phạm vi trách nhiệm của mình, cụ thể hoá các vấn đề nghiệp vụ, phương pháp điều tra và cách ghi phiếu.

Thứ hai, thực hiện tốt Lễ ra quân và công tác tuyên truyền, giúp người dân hiểu và hợp tác chặt chẽ trong Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024. Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, phối hợp của các cấp, các ngành, các tầng lớp Nhân dân trong công tác tuyên truyền. Công tác tuyên truyền phải thực hiện thường xuyên, liên tục, có tính kế thừa, có trọng tâm, trọng điểm. Nội dung, hình thức tuyên truyền đa dạng, sinh động phù hợp với ngôn ngữ, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương, đảm bảo hiệu quả, thiết thực.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các khâu trong quá trình điều tra, từ khâu rà soát địa bàn, cập nhật bảng kê hộ điều tra đến suốt quá trình thu thập thông tin tại địa bàn nhằm bảo đảm thu thập thông tin, số liệu đạt hiệu quả; bảo đảm điều tra viên đến đúng hộ, đúng đối tượng điều tra thu thập thông tin theo đúng quy định của Phương án Điều tra, không để xảy ra tình trạng điều tra trùng hay bỏ sót hộ điều tra.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Phó Chủ tịch!

Tác giả bài viết: P.V

Lạng Sơn tập trung xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển toàn diện

Trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh cho biết, công tác dân tộc và việc thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; nhiều chương trình, dự án, chính sách dân tộc được triển khai thực hiện hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh Lạng Sơn đã đạt được kết quả nổi bật gì, thưa ông?

– Qua hơn 2 năm thực hiện CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cùng với CTMTQG xây dựng nông thôn mới, CTMTQG giảm nghèo bền vững và các giải pháp triển khai nhiệm vụ phát triển KT-XH, tỉnh Lạng Sơn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, quyết liệt thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu KT-XH quan trọng, qua đó hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, đầu tư mới, hoàn thành, góp phần đáng kể thúc đẩy tăng trưởng KT, bảo đảm an sinh XH, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển KT-XH 5 năm đã đề ra, cụ thể một số lĩnh vực nổi bật như:

Kinh tế tỉnh Lạng Sơn phục hồi đà tăng trưởng, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2022 đạt 7,22%, 6 tháng đầu năm 2023 đạt 5,32%; các khu vực kinh tế đều có chuyển biến tích cực. Lĩnh vực giao thông, lũy kế từ đầu giai đoạn đến nay đã đầu tư cứng hoá được thêm 93,6km đường tỉnh, đạt 98,9% (706,8/714,8km); cứng hoá được trên 110km các tuyến đường huyện, nâng tỷ lệ cứng hoá đạt 83%; ước thực hiện đến hết năm 2023 tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông đạt 174/181 xã, đạt 96,1%…

Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2022 ước tăng 7,09%, 6 tháng đầu năm 2023 tăng 5,79% so với cùng kỳ. Các sở, ngành, cơ quan đã phối hợp với Điện lực Lạng Sơn hoàn thành lưới điện nông thôn, hoàn thành các tiêu chí điện còn thiếu của các xã phấn đấu về đích nông thôn mới, đầu tư khởi công một số công trình phục vụ cho thu hút phát triển khu, cụm công nghiệp,…

Về nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2022 ước đạt 94.031ha, tổng sản lượng lương thực 304.944 tấn, đạt 101,33% kế hoạch; trong giai đoạn 2021 – 2023 đã hoàn thành sửa chữa nâng cấp 10 hồ chứa, góp phần bảo đảm an toàn hồ đập; lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá tiếp tục đạt được nhiều kết quả.

Xây dựng nông thôn mới đã hoàn thành 21/50 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 42% so với mục tiêu đề ra (dự kiến năm 2023 có thêm 10 xã đạt chuẩn), 10/25 xã nông thôn mới nâng cao mới (dự kiến năm 2023 có thêm 5 xã); giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm đạt 3% đáp ứng mục tiêu đề ra.

Đối với một tỉnh miền núi, điều kiện KT-XH còn khó khăn, xin ông cho biết những khó khăn, vướng mắc mà tỉnh đã và đang gặp phải trong quá trình triển khai các CTMTQG?

– Đến thời điểm hiện tại, việc thực hiện các CTMTQG trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói chung và CTMTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể như: Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của 3 CTMTQG năm 2022 cơ bản đạt theo kế hoạch đề ra, tuy nhiên còn ở mức thấp, các chỉ tiêu quan trọng đánh giá tính bền vững chưa cao, đặc biệt là chỉ tiêu về thu nhập, chỉ tiêu về giảm tỷ lệ hộ nghèo, các chỉ tiêu thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản còn ở mức cao, đặc biệt là ở nhóm hộ nghèo.

Chưa có hướng dẫn thống nhất của Trung ương về tổ chức, biên chế, nhiệm vụ của bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo; chưa rõ nội dung quy định về kinh phí, cơ chế hoạt động, điều hành của Ban Chỉ đạo ở cấp tỉnh.

Tỉnh Lạng Sơn tiếp tục triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia với tinh thần “bám trên, sát dưới”, tỉnh chủ động triển khai, đồng thời phải sâu sát cơ sở, không thụ động chờ chỉ đạo của cấp trên trong thực hiện nội dung các Chương trình mục tiêu quốc gia; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; khắc phục tâm lý chủ quan, sợ sai không dám làm…

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh.

Tại thời điểm giao kế hoạch vốn thực hiện năm 2022, vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2021 – 2025 thực hiện các CTMTQG, các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện của các cấp, ngành chưa đầy đủ trong quá trình lập, thẩm định, phân bổ kế hoạch vốn làm cơ sở xác định đối tượng, phạm vi, quy mô thực hiện. Nguồn vốn được phân bổ muộn ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn năm.

Nhu cầu nguồn lực để thực hiện 3 CTMTQG trên địa bàn rất lớn, nhất là vốn đầu tư phát triển; trong khi đó nguồn vốn phân bổ hỗ trợ còn hạn chế. Việc lồng ghép các nguồn vốn thực hiện bị hạn chế bởi các quy định về địa bàn thực hiện. Đồng thời nguồn thu ngân sách tỉnh còn hạn chế, nên việc cân đối, bố trí vốn đối ứng thực hiện 3 CTMTQG gặp khó khăn; việc huy động các nguồn vốn thực hiện các CTMTQG còn chậm so với nhu cầu kế hoạch vốn. Kết quả rà soát đến thời điểm hiện nay nguồn vốn sự nghiệp của một số dự án, tiểu dự án không bảo đảm giải ngân hết kế hoạch vốn năm 2023 và vốn năm 2022 kéo dài sang do trùng lặp về đối tượng thực hiện, đối tượng chi giảm so với số liệu đã báo cáo đầu kỳ.

Riêng đối với CTMTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn gặp một số khó khăn, cụ thể như: tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giữa các giai đoạn có sự khác biệt nhưng nhiều chính sách lại áp dụng đối tượng thực hiện giữa các giai đoạn như nhau nên việc triển khai thực hiện gặp khó khăn và bất cập; định mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng còn thấp (400.000 đồng/ha/năm) nên người dân chưa quan tâm, chú trọng vào công tác quản lý bảo vệ rừng, không tha thiết tham gia nhận hỗ trợ khoán bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên; việc bố trí lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho cùng một đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ từ 1 CTMTQG trên 1 lớp học cũng gặp nhiều khó khăn; cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải tuyển sinh nhiều loại đối tượng và thực hiện thanh quyết toán từ nhiều CTMTQG khác nhau trên một lớp học; việc hỗ trợ, phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị khó triển khai thực hiện do điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế, địa bàn xa trung tâm; sự liên kết, hợp tác giữa các hợp tác xã với các doanh nghiệp chưa nhiều, năng lực quản lý chưa cao, thiếu vốn, thiếu khoa học kỹ thuật…

Kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn có nhiều khởi sắc. (Ảnh: Mai Linh/VOV)
Kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn có nhiều khởi sắc. (Ảnh: Mai Linh/VOV)

Trong thời gian tới, tỉnh Lạng Sơn có những giải pháp gì để khắc phục hạn chế, cũng như định hướng cho việc triển khai chương trình?

– Với đặc thù có 83,91% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số, tỉnh Lạng Sơn xác định việc thực hiện các CTMTQG nói chung và CTMTQG phát triển KT-XH vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2021 – 2025. Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tiếp tục thực hiện hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu theo kế hoạch, tỉnh Lạng Sơn đề ra 5 giải pháp như sau:

Một là, tiếp tục tăng cường, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, huy động người dân, doanh nghiệp tích cực tham gia vào các CTMTQG, lồng ghép nguồn vốn, huy động nguồn lực từ các tổ chức chính trị – xã hội, nguồn lực xã hội hóa, sự vào cuộc tích cực của nhân dân để hoàn thành các tiêu chí chưa đạt, tập trung thực hiện, duy trì các chỉ tiêu bền vững như các chỉ tiêu thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, các chỉ tiêu về thu nhập người dân nông thôn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn sang nông nghiệp bền vững và các ngành công nghiệp, dịch vụ.

Hai là, tập trung chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thành hệ thống văn bản cơ chế chính sách, hướng dẫn thuộc phạm vi của tỉnh, bảo đảm hoàn thành 100% văn bản cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện các CTMTQG thuộc thẩm quyền của tỉnh.

Ba là, tổ chức thực hiện rà soát tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch vốn thực hiện các CTMTQG giai đoạn 2021 – 2025: trong năm 2023 tập trung rà soát đánh giá khả năng thực hiện các chỉ tiêu giai đoạn 2021 – 2025 và năm 2023; đề xuất phương án thực hiện, phương án huy động nguồn lực ngoài kế hoạch vốn đã được phê duyệt để triển khai thực hiện hoàn thành mục tiêu; trường hợp xác định không đạt mục tiêu nhiệm vụ được giao kịp thời báo cáo Bộ, ngành Trung ương theo quy định.

Bốn là, tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo UBND các huyện, thành phố tập trung cao độ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, bám sát công việc, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các CTMTQG, bảo đảm phấn đấu tỷ lệ giải ngân kế hoạch vốn cao nhất theo chỉ đạo của Chính phủ; chủ động rà soát, nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn, trên tinh thần những nội dung nào đã rõ, phù hợp với thực tiễn thì triển khai ngay, không chờ đủ các văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh mới bắt đầu triển khai; tập trung đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn thực hiện các CTMTQG đã được giao, trong đó cần quan tâm chỉ đạo giải ngân nguồn vốn sự nghiệp đối với những nội dung đã rõ, đã có hướng dẫn thực hiện; bảo đảm tỷ lệ huy động, lồng ghép các nguồn vốn thực hiện các chương trình.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện các Chương trình; nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo các CTMTQG các cấp để nắm bắt ngay những khó khăn, vướng mắc, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ, giải quyết.

Trân trọng cảm ơn ông!

Những giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn

(Mặt trận) – Những năm gần đây, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với chính quyền và các ngành chức năng triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, thực hiện công tác giảm nghèo bền vững, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Ủy ban Mặt trận tỉnh cũng đã thực hiện có hiệu quả các chính sách về giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, tuyên truyền nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Phó Chủ tịch Ngô Sách Thực thăm hỏi động viên bà con người Dao Lù Gang (thôn Trà Ký, xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), tháng 11/2022. Ảnh Đại đoàn kết

Những năm qua, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với tuyên truyền các sự kiện quan trọng của đất nước, của dân tộc. Đã tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc đi bỏ phiếu thực hiện quyền và nghĩa vụ của cử tri, lựa chọn những đại biểu tiêu biểu tham gia vào cơ quan quyền lực của Nhà nước và địa phương; tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc với các hình thức đa dạng; tổ chức các lớp tập huấn về “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số”.

Từ năm 2015 đến nay, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã phối hợp với các tổ chức thành viên và các ngành chức năng đã tổ chức tuyên truyền lồng ghép được trên 35.120 cuộc cho trên 2,5 triệu lượt người nghe; đã phát được 500 số chuyên mục Đại đoàn kết và trên 5.000 tin, bài trên sóng truyền hình tỉnh Lạng Sơn, Báo Lạng Sơn và Trang Thông tin điện tử của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên phối hợp với các tổ chức thành viên phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của Nhân dân tham gia thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động ở khu dân cư, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giúp đồng bào dân tộc vươn lên, thời gian qua, tỉnh Lạng Sơn đã tích cực triển khai các hoạt động nhằm giúp đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nâng cao đời sống. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh tham mưu cho cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên triển khai có hiệu quả, nhằm phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới. Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt nếp sống văn minh, nâng cao chất lượng “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư văn hóa”, từng bước xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, vận động đồng bào các dân tộc phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc thông qua tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, văn nghệ, khôi phục và duy trì các lễ hội truyền thống, những điệu hát then, múa sư tử… thông qua tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11). Ngày hội Biên phòng toàn dân (3/3), góp phần phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, giữ gìn trật tự an ninh thôn, bản. Trong quá trình thực hiện cuộc vận động đã có nhiều mô hình, cách làm hay được triển khai trong cộng đồng như: mô hình phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại huyện Chi Lăng; mô hình chung tay xây dựng khu dân cư “Sáng-xanh-sạch-đẹp” tại huyện Tràng Định, huyện Chi Lăng; mô hình phong trào quần chúng tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc tại xã Thanh Lòa, xã Bảo Lâm, huyện Cao Lộc, xã Đội Cấn, huyện Tràng Định; mô hình “Khu dân cư bảo đảm trật tự an toàn giao thông”, “Khu dân cư phòng, chống tội phạm ma túy”, “Khu dân cư không bạo lực gia đình”… Tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, chính sách, tập trung giải quyết các nhu cầu bức thiết của người dân, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn; công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ làm.

Từ năm 2015 đến nay, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh Lạng Sơn đã vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” được trên 41 tỷ đồng, đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 1.003 ngôi nhà cho hộ nghèo trị giá trên 23,7 tỷ đồng, tặng quà tết, hỗ trợ thăm hỏi 12.308 suất trị giá trên 6,5 tỷ đồng… Hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về “Toàn dân tham gia ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19”, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã tổ chức phát động các tập thể, cá nhân ủng hộ được trên 27,3 tỷ đồng tiền mặt và trên 12,7 tỷ đồng hiện vật. Từ nguồn quỹ thu được, đã tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm cho các đơn vị tham gia phòng, chống dịch Covid-19; hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch.

Bên cạnh đó, việc phối hợp thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách về dân tộc và công tác dân tộc, từ năm 2015 đến nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên đã giám sát bằng hình thức xem xét văn bản được 1.380 văn bản; thành lập đoàn giám sát được 1.060 cuộc; tham gia giám sát được 5.135 cuộc, cụ thể một số đơn vị điển hình như: Tỉnh đoàn Lạng Sơn giám sát được 49 cuộc, đoàn cấp huyện giám sát được 87 cuộc; Hội Cựu chiến binh giám sát được 15 cuộc; Hội Nông dân tổ chức giám sát được 20 đoàn; các cấp công đoàn đã giám sát được 285 cuộc; Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã tổ chức được 35 cuộc. Phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm qua, các Ban Thanh tra nhân dân đã tiến hành giám sát 2.125 cuộc; Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng giám sát được 2.230 cuộc, qua giám sát đã kiến nghị xử lý nhiều vụ việc sai phạm, góp phần hạn chế những tiêu cực ở cơ sở, làm minh bạch quản lý đất đai, vốn, tài sản của Nhà nước, các dự án đầu tư của cộng đồng… tạo lòng tin trong Nhân dân, giảm thiểu đơn thư khiếu nại, tố cáo, giữ vững ổn định địa phương.

Cũng từ năm 2015 đến nay, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức 13 cuộc khảo sát nắm tình hình kinh tế – xã hội và đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo tại các huyện; đã tổ chức giám sát về kết quả thực hiện một số chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Đại An, huyện Văn Quan; tổ chức 22 cuộc giám sát thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 10 cuộc giám sát việc thực hiện Dự án nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; tổ chức 5 cuộc khảo sát nắm bắt tình hình về một số nội dung công tác dân tộc và giám sát kết quả thực hiện đầu tư các dự án như: dự án ổn định dân cư, di dân thành lập thôn bản mới giáp biên giới Việt – Trung; tổ chức 17 cuộc về việc phối hợp giám sát đối với Ủy ban nhân dân các huyện và sở, ngành liên quan thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

Qua công tác khảo sát, giám sát tại các huyện, cơ sở, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã có các ý kiến, kiến nghị, đề xuất với các cơ quan chức năng của tỉnh, huyện và cơ sở về những vấn đề liên quan thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước và tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn của tỉnh.

Công tác phát huy vai trò người uy tín tiêu biểu đã được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tham mưu cho cấp ủy Đảng lãnh đạo, chính quyền quan tâm chỉ đạo đồng bộ với nhiều nội dung, hình thức thiết thực, hiệu quả. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh hàng năm phối hợp với các ngành chức năng tiến hành tổ chức thẩm định danh sách người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được đề xuất, giới thiệu từ cơ sở cộng đồng dân cư theo Quyết định 56 và Quyết định số 12 của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận. Tổng số người có uy tín trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2015 đến này là: 13.702 lượt người được công nhận.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã thường xuyên quan tâm động viên, phát huy vai trò người uy tín trong việc tham gia phòng, chống tội phạm, thực hiện nếp sống văn hóa, bài trừ các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội, tích cực sản xuất, kinh doanh… Đội ngũ người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đã luôn gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua, các cuộc vận động; động viên con cháu, cộng đồng dân cư thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, giữ gìn trật tự thôn bản, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở đoàn kết, vững mạnh. Tỉnh Lạng Sơn có 75/181 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 82 khu dân cư kiểu mẫu được công nhận đạt chuẩn; chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo được nâng lên, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn tiếp tục được chú trọng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh Lạng Sơn giảm từ 7,88% năm 2020 xuống còn 5,76% năm 2021 (tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 là 12,20%).

Dù vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn còn chậm phát triển, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao; việc nhân rộng các mô hình sản xuất mới gắn với tiêu thụ sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong thời gian tới, tỉnh Lạng Sơn xác định thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, cũng như góp phần cùng các địa phương khác trong cả nước thực hiện hoàn thành các mục tiêu của các chương trình.

Một số bài học kinh nghiệm qua gần 7 năm triển khai thực hiện Kết luận số 01/KL-ĐCT của Đoàn Chủ tịch và hướng dẫn số 25/HD-MTTW-BTT ngày 6/10/2015 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh Lạng Sơn quán triệt triển khai bằng nhiều hình thức đa dạng, đồng bộ, đó là:

Thứ nhất, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp của tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều đổi mới trong phương thức tiếp cận với đồng bào dân tộc thiểu số. Phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền và triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, công tác dân tộc; tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc phát động, các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Hai là, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với chính quyền, các, sở, ban, ngành, tổ chức thành viên triển khai thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đạt các mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của đồng bào vùng dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

Ba là, thông qua việc thực hiện Kết luận số 01/KL-ĐCT của Đoàn Chủ tịch đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và có nhiều chuyển biến tích cực về công tác dân tộc của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên từ cấp tỉnh đến cơ sở. Công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc với chính quyền và các tổ chức thành viên tiếp tục được tăng cường. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động: Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và phong trào đoàn kết sáng tạo, chú trọng nâng cao về chất lượng và hiệu quả. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội đối với các chính sách ở vùng dân tộc thiểu số từng bước được nâng lên. Các mô hình phát triển kinh tế Hợp tác xã và hộ gia đình gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới được đồng bào các dân tộc tích cực hưởng ứng, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, giữ vững quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc.

Bốn là, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp của tỉnh Lạng Sơn đã phát huy tốt vai trò của người uy tín và người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã thực hiện tốt công tác tập hợp các tầng lớp nhân dân, thu hút, động viên Nhân dân các dân tộc, huy động được nhiều nguồn lực trong Nhân dân và các tổ chức, các doanh nghiệp hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, các Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng trong việc giám sát thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Cao Thị Ngọc Thủy

 Ban Dân tộc, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tỉnh ủy Lạng Sơn chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số trong nhiệm kỳ 2020 – 2025

TCCS – Phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng trong chiến lược cán bộ của Đảng. Từ thực tiễn chỉ đạo chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2020 – 2025, Tỉnh ủy Lạng Sơn chia sẻ một số nhận thức, kết quả, kinh nghiệm, phương hướng và giải pháp để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả, nhằm đáp ứng yêu cầu đề ra trong giai đoạn tới.

Về cơ cấu đội ngũ cán bộ của tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc. Cơ cấu dân cư gồm 7 dân tộc chủ yếu, trong đó dân tộc Kinh chiếm 16,1%, các dân tộc thiểu số chiếm 83,9% (dân tộc Nùng chiếm 42,9%, dân tộc Tày chiếm 36,1%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác)(1). Tỉnh gồm 10 huyện và 1 thành phố, trong đó có 5 huyện, 20 xã và 1 thị trấn khu vực biên giới. Tỉnh ủy Lạng Sơn có 15 đảng bộ trực thuộc (10 đảng bộ huyện, 1 đảng bộ thành phố, 4 đảng bộ trực thuộc), 746 tổ chức cơ sở đảng (300 đảng bộ, 446 chi bộ cơ sở), với 64.672 đảng viên, trong đó có 25.301 đảng viên nữ (tỷ lệ 39,12%), 51.306 đảng viên là người dân tộc thiểu số (tỷ lệ 79,33%).

Đồng chí Bàn Thị Thanh, Phó trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội – Dân tộc huyện Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn) cùng bà con đồng bào dân tộc thiểu số tìm hiểu thông tin trên báo chí_Ảnh: baodantoc.vn

Chủ trương phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số được cụ thể hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, gần đây nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trong quá trình chuẩn bị nhân sự mỗi kỳ đại hội đảng bộ các cấp, yêu cầu về tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số luôn được đặt ra thường phải bằng hoặc cao hơn nhiệm kỳ trước, dẫn đến nhiều địa phương, đơn vị phải cố gắng cao để đạt được tỷ lệ này.

Với tinh thần luôn quán triệt, triển khai nghiêm túc, kịp thời các chủ trương, nghị quyết, quy định của Trung ương, xuất phát từ thực tế tình hình đội ngũ cán bộ của một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, hạn chế và từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh, thời gian qua, Tỉnh ủy Lạng Sơn đặc biệt quan tâm và tập trung nhiều cho công tác cán bộ; trong đó, chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý, ngang tầm nhiệm vụ.

Theo số liệu đầu nhiệm kỳ 2015 – 2020 của Đảng bộ tỉnh, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy các cấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước. Cấp tỉnh: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có 54 đồng chí, trong đó cán bộ trẻ có 3/54 đồng chí, chiếm 5,6%; cán bộ nữ có 9/54 đồng chí, chiếm 16,7%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 29/54 đồng chí, chiếm 53,7%. Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 14 đồng chí, trong đó cán bộ nữ là 2 đồng chí, chiếm 14,3% (hiện nay là 3 đồng chí, chiếm 21,43%); cán bộ là người dân tộc thiểu số có 7 đồng chí, chiếm 50%; lãnh đạo chủ chốt Tỉnh ủy có 1 đồng chí là nữ, chiếm 33,3%. Cấp huyện: Ban chấp hành đảng bộ các huyện ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy có 516 đồng chí; trong đó cán bộ trẻ là 88 đồng chí, chiếm 17,05%; cán bộ nữ là 114 đồng chí, chiếm 22,09%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 372 đồng chí, chiếm 72,09%. Cấp xã: Ban chấp hành các đảng bộ xã, phường, thị trấn có 2.592 đồng chí; trong đó, cán bộ trẻ có 1.217 đồng chí, chiếm 46,9%; cán bộ nữ là 512 đồng chí, chiếm 19,7%; cán bộ là người dân tộc thiểu số gồm 2.314 đồng chí, chiếm 89,3%.

Những kết quả đã đạt được đó chính là cơ sở thực tiễn và là tiền đề quan trọng để Tỉnh ủy Lạng Sơn xây dựng phương án nhân sự và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã trong nhiệm kỳ 2020 – 2025. Tỉnh ủy Lạng Sơn đặt quyết tâm tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ, trước mắt chuẩn bị thật tốt nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ 2020 – 2025, trong đó chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Nỗ lực của Đảng bộ tỉnh trong xây dựng đội ngũ cán bộ thời gian qua

Tập trung cho công tác chuẩn bị, tạo nguồn cán bộ.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ 2015 – 2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt hai đề án quan trọng: “Đề án xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 và những năm tiếp theo” và “Đề án quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025 và những năm tiếp theo”(2). Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 86-KH/TU, ngày 4-10-2018, trong đó có sự điều chỉnh, cập nhật các chỉ tiêu trong hai đề án nêu trên về tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã chủ động nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp trong tỉnh tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Đến thời điểm hiện nay, kết quả rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy các cấp của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2020 – 2025 đều đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó hệ số quy hoạch đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đều tăng so với nhiệm kỳ trước và có tính khả thi cao. Đây sẽ là nguồn cán bộ dồi dào để xem xét, giới thiệu cho đại hội đảng bộ các cấp. Cụ thể, trong Quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh: Cán bộ trẻ có 14/97 đồng chí, chiếm 14,4% (chỉ tiêu cần đạt là 10%); cán bộ nữ có 28/97 đồng chí, chiếm 28,86% (chỉ tiêu cần đạt là 15%); cán bộ là người dân tộc thiểu số có 54/97 đồng chí, chiếm 55,7%. Trong quy hoạch ban chấp hành của 15 đảng bộ cấp huyện và tương đương, số cán bộ trẻ là 370/798 đồng chí, chiếm 46,4%; cán bộ nữ là 230/798 đồng chí, chiếm 28,8%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 567/798 đồng chí, chiếm 71,1%. Trong quy hoạch ban chấp hành đảng bộ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh: Cán bộ trẻ có 2.359/3.497 đồng chí, chiếm 67,5%; cán bộ nữ có 1.145/3.497 đồng chí, chiếm 32,7%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 2.915/3.497 đồng chí, chiếm 83,4%.

Cùng với việc quy hoạch, tỉnh đã đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và luân chuyển để rèn luyện cán bộ qua thực tiễn. Thời gian qua, tỉnh đã mở lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII cho 101 đồng chí; mở 8 lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho 1.281 lượt cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; cử 294 lượt cán bộ đi học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc theo kế hoạch của tỉnh và 52 lượt cán bộ đi bồi dưỡng theo kế hoạch của Trung ương; cử đi đào tạo trình độ lý luận chính trị 6.575 lượt cán bộ (Cao cấp lý luận chính trị: 681 lượt; Trung cấp lý luận chính trị: 4.103 lượt; Sơ cấp lý luận chính trị: 1.791 lượt); 483 lượt cán bộ tham gia đào tạo chuyên môn sau đại học (tiến sĩ và tương đương: 48 lượt; thạc sĩ: 435 lượt)Từ năm 2016 đến nay, có 407 lượt cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào các chức danh diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý (điều động, bổ nhiệm 101 lượt; giới thiệu cán bộ ứng cử 273 lượt; luân chuyển 33 lượt); trong đó, cán bộ trẻ là 39/407, chiếm 9,6%; cán bộ nữ là 106/407, chiếm 26%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 267/407, chiếm 65,6%.

Có thể nói, với những chủ trương và biện pháp chuẩn bị từ sớm, Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện công tác luân chuyển cán bộ nhằm trang bị kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, ngoại ngữ, quản lý nhà nước, đặc biệt là năng lực hoạt động thực tiễn để từng bước khắc phục tình trạng hẫng hụt cán bộ, đáp ứng yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuẩn bị tốt nguồn cán bộ cho nhiệm kỳ 2020 – 2025 và những năm tiếp theo.

Các đại biểu biểu quyết tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn) lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2020 – 2025_Ảnh: TTTXVN

Xây dựng chỉ tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở mức tích cực và khả thi.

Quán triệt, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, trực tiếp là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII và Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn đã thảo luận kỹ lưỡng và quyết định một số chỉ tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó phần lớn là các chỉ tiêu định lượng về tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số(3). Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020 và năm 2025 cần đạt được là:

Cán bộ trẻ(4): Số cán bộ trẻ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp sở, ban, ngành của tỉnh, vào năm 2020 đạt tỷ lệ 10% trở lên, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 15% trở lên; phấn đấu có cán bộ dưới 40 tuổi tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của tỉnh. Ở cấp huyện, cán bộ trẻ tham gia ban chấp hành đảng bộ cấp huyện năm 2020 đạt tỷ lệ 20% trở lên; tham gia ban thường vụ cấp ủy huyện và tương đương đạt tỷ lệ 15% trở lên, đến năm 2025 đạt 20% trở lên; tham gia các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện năm 2020 đạt tỷ lệ 10% trở lên, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 15% trở lên. Ở cấp xã, cán bộ trẻ tham gia cấp ủy xã năm 2020 đạt tỷ lệ 25%, năm 2025 đạt tỷ lệ 25%; tham gia ban thường vụ và cán bộ chủ chốt cấp xã đạt tỷ lệ 10% trở lên.

Cán bộ nữ: Số cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh năm 2020 đạt tỷ lệ 15% – 18%, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 20% trở lên; tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy năm 2020 đạt tỷ lệ 15% trở lên, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 20% trở lên. Ở cấp huyện, cán bộ nữ tham gia ban chấp hành đảng bộ cấp huyện đạt tỷ lệ 25% trở lên, tham gia ban thường vụ huyện ủy và tương đương đạt tỷ lệ 15% trở lên. Các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và tương đương là cán bộ nữ đạt tỷ lệ 15% trở lên. Ở cấp xã, số cán bộ nữ tham gia cấp ủy xã năm 2020 và 2025 đạt tỷ lệ 25%; tham gia ban thường vụ cấp ủy xã và các chức danh chủ chốt năm 2020 và 2025 đạt tỷ lệ tương ứng là 15% và 20% trở lên. Tỷ lệ đại biểu hội đồng nhân dân là nữ ở tất cả các cấp phấn đấu đạt 35% trở lên.

Cán bộ là người dân tộc thiểu số: Vận dụng đúng nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Tỉnh ủy không ấn định tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở các cấp mà quy định có số lượng phù hợp với cơ cấu dân cư và đặc điểm của địa phương, đơn vị. Trên thực tế, do đặc điểm cơ cấu dân cư và cơ cấu đội ngũ đảng viên, nên tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy và giữ vị trí chủ chốt ở các ngành, các cấp trong tỉnh Lạng Sơn nói chung đều cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước và phù hợp với cơ cấu dân cư các địa phương trong tỉnh.

Các chỉ tiêu đề ra như trên đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao để thực hiện của toàn Đảng bộ tỉnh và cần có lộ trình, cách làm phù hợp. Thực tế kiểm nghiệm qua đại hội đảng bộ cấp cơ sở tính đến ngày 25-3-2020, trong số 88 chi bộ, đảng bộ cơ sở đã tiến hành đại hội, kết quả nhân sự cấp ủy viên thực tế đạt như sau: Cán bộ nữ chiếm 33,67%; cán bộ trẻ dưới 35 tuổi chiếm 12%; cán bộ là người dân tộc thiểu số chiếm 67,86%(5).

Những giải pháp cụ thể và đồng bộ cần được thực hiện trong thời gian tới

Với quá trình chuẩn bị và một số kết quả bước đầu như trên, để thực sự đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, xây dựng được đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số dồi dào về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Tỉnh ủy Lạng Sơn xác định tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số phương hướng và giải pháp trọng tâm trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, phải xác định việc quan tâm phát triển đội  ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số là yêu cầu có tính tất yếu khách quan nhằm bảo đảm sức sống và sự phát triển của Đảng, của hệ thống chính trị; là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với một tỉnh miền núi, biên giới, có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số như tỉnh Lạng Sơn. Chính vì vậy, đây phải là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị tỉnh Lạng Sơn, trước hết là trách nhiệm của từng cấp ủy, ban thường vụ và người đứng đầu cấp ủy mỗi cấp. Một mặt, phải tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những nhân tố tích cực trong số cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số để họ thực sự trở thành những người tiêu biểu toàn diện; mặt khác, không dễ dãi, chỉ phấn đấu đạt các chỉ tiêu theo cơ cấu một cách cứng nhắc, mà phải coi trọng hơn việc đáp ứng các tiêu chuẩn của người cán bộ; đặt ra yêu cầu nghiêm khắc và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số tự giác học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên đạt tiêu chuẩn chung và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời với việc đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, Tỉnh ủy chú trọng giáo dục, bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên; từ thực tế công việc giúp cán bộ bộc lộ tư chất lãnh đạo, năng lực quản lý và từng bước trưởng thành qua kết quả công việc cụ thể.

Thứ hai, chú trọng tạo nguồn cán bộ tốt từ đầu vào. Tạo nguồn cán bộ là việc phải làm từ sớm, từ xa, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ qua nhiều năm, suy rộng ra phải bắt đầu từ phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài của tỉnh. Trước mắt, để có được đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số bảo đảm chất lượng và số lượng thì phải rất chú trọng chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ, công chức thông qua tuyển dụng công khai, minh bạch, có cạnh tranh, trên nguyên tắc bình đẳng gắn với thực hiện cơ chế ưu tiên đúng pháp luật để tuyển dụng được số cán bộ, công chức, viên chức trẻ tuổi, là nữ, là người dân tộc thiểu số để bổ sung cho các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn ở cấp xã.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã giao Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành tiếp tục nghiên cứu đề xuất các chính sách thu hút nguồn nhân lực từ đội ngũ sinh viên đại học là người Lạng Sơn, có học lực giỏi trở lên, có phẩm chất tốt, có nguyện vọng về công tác tại tỉnh nhà; trọng dụng những trí thức trẻ đã tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các dự án tình nguyện về trí thức trẻ, có mong muốn cống hiến lâu dài cho địa phương. Tỉnh tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, viên chức thông qua việc cải tiến quy trình, thủ tục, kết hợp hợp lý giữa thi và xét tuyển; thực hiện tuyển dụng theo tiêu chuẩn vị trí việc làm. Đồng thời, Lạng Sơn từng bước có cơ chế sàng lọc, tinh giản biên chế để đưa những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, nhiều năm không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu ý chí phấn đấu ra khỏi bộ máy hệ thống chính trị để nhường chỗ cho những cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đã được đào tạo cơ bản, chính quy, có trách nhiệm và nhiệt tình tham gia công tác.

Thứ ba, làm tốt công tác đánh giá cán bộ trên cơ sở xây dựng tiêu chí đánh giá, tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Trên cơ sở quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, các cấp ủy, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của tỉnh quán triệt và triển khai thực hiện đánh giá cán bộ một cách đồng bộ, chặt chẽ, xuyên suốt, liên tục, đa chiều, gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Xây dựng và thường xuyên cập nhật các quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trên cơ sở đó xác định yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đề bạt; xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, hạn chế tối đa yếu tố chủ quan, khắc phục định kiến hẹp hòi trong đánh giá cán bộ, nhất là đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ. Kết quả quy hoạch cấp ủy các cấp hiện nay được sử dụng để phục vụ trực tiếp cho đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025. Tuy nhiên, để bảo đảm quy hoạch luôn “động” và “mở” với nguồn cán bộ dồi dào, hằng năm cấp ủy các cấp cần thực hiện thường xuyên công tác rà soát, bổ sung quy hoạch, bảo đảm cơ cấu ba độ tuổi, thực hiện trẻ hóa nguồn cán bộ một cách liên tục. Trên cơ sở xây dựng quy hoạch, các cấp ủy đảng đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chú trọng mở các lớp đào tạo cán bộ nguồn cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; khuyến khích các địa phương, đơn vị tiến hành đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu của địa phương, đơn vị mình; đẩy mạnh xã hội hóa trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý nhiệm kỳ 2020 – 2025. Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc; ban thường vụ, ban cán sự đảng các sở, ban, ngành; đảng đoàn các đoàn thể chính trị – xã hội của tỉnh trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh tiến hành xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ theo thẩm quyền phân cấp cán bộ, bảo đảm triển khai ngay từ đầu nhiệm kỳ mới.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các chính sách hiện nay của tỉnh theo hướng phù hợp cho cả ba đối tượng là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, đồng thời có chính sách phù hợp riêng để khuyến khích sự phát triển của từng đối tượng cán bộ này. Đối với cán bộ trẻ, thường là những đồng chí đã được đào tạo khá cơ bản về trình độ chuyên môn, lý luận nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn, vì vậy cần chú trọng xây dựng và thực hiện các chính sách về luân chuyển, như luân chuyển dọc, luân chuyển ngang để cán bộ trẻ trải qua nhiều môi trường công tác; nghiên cứu cơ chế, chính sách hỗ trợ cho cán bộ huyện luân chuyển đến các xã xa trung tâm huyện, khó khăn cả về giao thông và điều kiện làm việc, sinh hoạt; đầu tư xây dựng nhà công vụ cho cán bộ luân chuyển ở các huyện, thành phố… Đối với cán bộ nữ, do thường gặp những khó khăn trong chăm lo cho gia đình hay rào cản về tập quán, về giới, nên cần có những chương trình, dự án nâng cao năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, bảo đảm đáp ứng chế độ hiện hành, tăng cường các chính sách bình đẳng giới,… Đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số, phải thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, cụ thể như ưu tiên trong đào tạo, tuyển dụng và bố trí việc làm theo chế độ cử tuyển; trong đó, một cách làm hiệu quả là phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú từ huyện lên tỉnh, từ đó nâng cao tỷ lệ học sinh là người dân tộc thiểu số được học từ nhỏ trong các trường dân tộc nội trú, coi đây là nơi phát hiện, nuôi dưỡng và rèn luyện những nhân tố tích cực từ sớm, trong tập thể và môi trường giáo dục lành mạnh để có nguồn cán bộ lâu dài.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn Lâm Thị Phương Thanh trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho cá nhân tại Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn lần thứ III năm 2019, với chủ đề: “Các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đoàn kết, phát huy nội lực, hội nhập và phát triển”_Ảnh: TTXVN

Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ gắn với thi đua, khen thưởng và kỷ luật. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các cơ quan, đơn vị, các cơ sở đào tạo cán bộ của tỉnh; kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong công tác chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuẩn bị tốt nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thay thế khi có yêu cầu điều động, luân chuyển hoặc khi có người nghỉ hưu; tăng cường thực hiện các cơ chế kiểm soát quyền lực bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng, phòng, chống tiêu cực trong công tác cán bộ. Đây là việc làm rất có ý nghĩa đối với sự phát triển của đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, bởi nếu ở đâu đó có hiện tượng tiêu cực, mất công bằng diễn ra trong công tác cán bộ thì người bị thiệt thòi “không đến lượt” thường là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số; ngược lại, nếu kiểm soát không chặt chẽ cũng có thể dẫn đến hiện tượng nhiều nơi “viện cớ” cần có cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số để coi nhẹ tiêu chuẩn, thậm chí vi phạm nguyên tắc, quy trình trong công tác cán bộ. Cấp ủy, chính quyền các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cũng cần đẩy mạnh phong trào thi đua, công tác khen thưởng và giữ vững kỷ luật nhằm tạo động lực cho các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số và chấn chỉnh các tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm trong xây dựng đội ngũ cán bộ cho hiện tại và tương lai.

Cần khẳng định, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ tham gia cấp ủy cũng như cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng cho cả hiện tại và lâu dài. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về vấn đề này, vận dụng vào thực tiễn địa phương, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã có những bước chuẩn bị căn cơ về nhiều mặt, xác định rõ chỉ tiêu ở mức cao, đồng thời đã và đang quyết tâm triển khai nhiều giải pháp quyết liệt để xây dựng được đội ngũ cán bộ của tỉnh trong nhiệm kỳ mới đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Quyết tâm đó đang được thực hiện một cách nhất quán và lan tỏa trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới công tác cán bộ của các cấp ủy trong toàn Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn, với tinh thần trách nhiệm cao nhất để chuẩn bị nhân sự và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, góp phần tập trung xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị tỉnh Lạng Sơn ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

Đồng bào các dân tộc thiểu số Lạng Sơn đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, hội nhập và phát triển bền vững

Đồng chí Hồ Tiến Thiệu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024

Ngày 19/11/2024, tại Trung tâm hội nghị tỉnh, đã diễn ra Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số (DTTS) tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024 với chủ đề “Các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đoàn kết, đổi mới sáng tạo, phát huy lợi thế, tiềm năng, hội nhập và phát triển bền vững”.

Các đại biểu dự đại hội

Dự đại hội về phía Trung ương có đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (UBDT); đại biểu các vụ thuộc UBDT. Đến dự đại hội có đại biểu Ban Dân tộc một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tiết mục văn nghệ chào mừng đại hội

Về phía tỉnh Lạng Sơn, dự đại hội có đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; đồng chí Hồ Tiến Thiệu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Đoàn Thị Hậu, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; lãnh đạo huyện ủy, UBND các huyện, thành phố, cùng 250 đại biểu, đại diện cho đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh.

Quang cảnh đại hội

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, dân số có trên 812.000 người. Trong đó, dân tộc (DT) Kinh chiếm 16,09% dân số, các DTTS chiếm 83,91% dân số. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện; 200 xã, phường, thị trấn, trong đó có 199 xã thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi. Sau 5 năm thực hiện Quyết tâm thư Đại hội đại biểu các DTTS tỉnh Lạng Sơn lần thứ III, tốc độ giảm nghèo của tỉnh đạt trên 2,9%/năm; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 56 triệu đồng/người/năm; toàn tỉnh đã hỗ trợ nhà ở cho 1.040 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 1.887 hộ; hằng năm tạo việc làm mới cho khoảng 15.000 – 17.000 lao động; 100% hộ nghèo, cận nghèo, người DTTS sống ở vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế, ước hết năm 2024 có 200 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế ước đạt 94,45%; số trẻ mầm non đến trường, học sinh đi học phổ thông được duy trì đạt tỷ lệ trên 99%. Bên cạnh đó, công tác phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý, phổ biến tình hình kinh tế – xã hội (KTXH) bằng tiếng DT được đẩy mạnh. Công tác DT, chính sách DT được cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở quan tâm, thực hiện hiệu quả. Các chương trình, chính sách DT và 03 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) giai đoạn 2021-2025 được triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, hiệu quả, nguồn lực đầu tư hỗ trợ của các chương trình, chính sách DT đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi…

Các đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm tiêu biểu, đặc sản của các huyện, thành phố

Tham luận tại đại hội, đại diện một số tập thể, cá nhân tiêu biểu đã trình bày, chia sẻ kinh nghiệm, cách làm hay, đề xuất giải pháp về công tác DT, chính sách DT, phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS với các nội dung về phát huy sức mạnh đại đoàn kết DT trong phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo; kết quả thực hiện bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch; phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào DTTS…

Đồng chí Hầu A Lềnh, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT phát biểu tại đại hội

Phát biểu tại đại hội, đồng chí Hầu A Lềnh, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT vui mừng và đánh giá cao những kết quả đồng bào các DTTS tỉnh Lạng Sơn đã đạt được trong thời gian qua. Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT đề nghị cấp ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn thực hiện hiệu quả Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác DT trong tình hình mới, phát huy tiềm năng, lợi thế, đẩy nhanh tiến độ xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo bảo đảm hoàn thành mục tiêu Chính phủ đã xác định. Tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào DTTS và miền núi, đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ người DTTS tại chỗ và cán bộ DTTS rất ít người. Kết hợp phát triển KTXH với đảm bảo quốc phòng, an ninh, tạo sự đồng thuận, xây dựng thôn bản đoàn kết, bình yên và phát triển. Đối với các đại biểu và đồng bào DTTS, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT mong muốn, dù khó khăn vất vả đến đâu cũng phải ưu tiên, tạo mọi điều kiện để cho con em được đến trường, tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác quốc phòng, an ninh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, đồng bào các DT phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của DT mình, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan; chuyển hóa các di sản và bản sắc DT trở thành nguồn lực, tài nguyên cho sự phát triển bền vững… Với lợi thế về vị trí địa lý, nhiều tiềm năng, người dân cần cù, thông minh, chịu thương, chịu khó, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT tin tưởng Lạng Sơn sẽ có nhiều sáng kiến phát triển đột phá, nhanh chóng trở thành tỉnh giàu về kinh tế, đậm đà bản sắc DT, vững về an ninh, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng bộ tỉnh cũng như mục tiêu trong Quyết tâm thư Đại hội đề ra.

Đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy phát biểu tại đại hội

Phát biểu tại đại hội, đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy bày tỏ đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác DT, chính sách DT giai đoạn 2024-2029. Đồng chí đề nghị các cấp ủy, chính quyền, Ủy ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tầng lớp Nhân dân và đồng bào DTTS trong tỉnh tiếp tục phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết, hăng hái thi đua, lao động sáng tạo, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác DT, phát huy hơn nữa vai trò của đồng bào các DTTS trong các phong trào thi đua yêu nước, phát triển KTXH, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia… qua đó, góp phần cùng cả tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Bên cạnh đó, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý, điều hành của chính quyền, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh về công tác DT, chính sách DT, đại đoàn kết toàn DT. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhất là kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trường học, trạm y tế một cách đồng bộ. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các CTMTQG, trong đó trọng tâm là CTMTQG phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030; làm tốt công tác giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh Nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc, tăng cường đối ngoại Nhân dân.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy trao bằng khen cho 2 cá nhân

Đồng chí Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT trao Bằng khen, Kỷ niệm chương cho các tập thể, cá nhân

Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh trao Bằng khen các tập thể, cá nhân

Nhân dịp này có 02 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS; 01 tập thể và 05 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện công tác DT và chính sách DT được tặng Bằng khen của Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT; 05 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển các DT”; 22 tập thể và 11 cá nhân được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2019-2024.

Để tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, Đại hội đại biểu các DTTS tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV, năm 2024 đã đề ra Quyết tâm thư, kêu gọi và phát động phong trào thi đua tới toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân các DT trong tỉnh quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2024-2029.

Đồng chí Đoàn Thị Hậu, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu bế mạc đại hội

Phát biểu bế mạc đại hội, đồng chí Đoàn Thị Hậu, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ công tác DT, chính sác DT, giai đoạn 2024-2029. Mục tiêu cụ thể đến năm 2029 cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; phấn đấu 80% xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1 đến 2%/năm; duy trì 100% xã đạt chuẩn tiêu chí quốc gia về y tế; phấn đấu 375 trường học đạt chuẩn quốc gia; tiếp tục thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về trình độ phát triển KTXH của đồng bào DTTS so với bình quân chung của tỉnh; tạo điều kiện thuận lợi để các hộ gia đình vùng đặc biệt khó khăn được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục chất lượng cao; tiếp tục nâng cao các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Cơ bản hoàn thành CTMTQG phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi, giai đoạn 2021-2030…/.

Khánh Ly

Người Hoa

NGƯỜI HOA

Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.
Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ…
Dân số: 749.466 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán – Tạng).

Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.

92bd424e e927 46a2 ae1d b22473b29efa 201606060
Sản phẩm của nghề điêu khắc đá của người Hoa ở thành phố Biên Hoà, tỉnh Ðồng Nai.

Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính, ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán… Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (thành phố Hồ Chí Minh)… Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ “tín”.

Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu… Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại… Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.

Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng “lục phủ, ngũ tạng”. Các loại trà sâm, hoa cúc… là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.

Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo “sườn xám” may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc…), bông tai, dây chuyền… Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.

b1305f31 a573 49e7 93f9 4bc32fa4982e 201606061
Múa Lân – Sư tử – Rồng là hình thức sinh hoạt văn nghệ truyền thống của người Hoa thường tổ chức từ ngày 23 tháng chạp (ngày ông Táo lên trời đến ngày 15 tháng giêng (tết Nguyên tiêu) tại các chùa. Người Hoa chuẩn bị kỹ càng trang phục trước khi múa Lân.

Ở: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.

Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa…

Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.

Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.

Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.

Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).

Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.

Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.

260f157a 624f 4498 ba6c 5b78d4fc607d 201606062
Học chữ Hoa – một nhu cầu bức thiết của người Hoa ở Việt Nam đã được Ðảng và Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện. Hiện nay học chữ hoa đang phổ biến rộng rãi trong cư dân người Hoa ở các địa phương.

Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài…) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm…)

Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.

Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.

Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch… với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt…), chập choã… Hát “sơn ca” (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các “nhạc xã”.

Múa lân, sư tử, rồng… là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam – NXB Giáo dục)

Dân tộc Dao

NGƯỜI DAO

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 891.151 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông – Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

b16ed8fb e3cc 45d0 830d be15b98fc3f8 201606060
Ở các xóm Dao thường có thợ rèn sửa chữa công cụ. Lò rèn chỉ có kìm, de, búa và ống bễ. ống bễ là một khúc gỗ khoét rỗng (1m x 0,30 – 0,40m), nằm ngang để quạt gió. Người khách thường giúp thợ rèn kéo bễ.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ – thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai… Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu…

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

22f1b33b ae76 43e7 a210 322a4145a6b9 201606061
Phụ nữ Dao đỏ búi tóc vấn khăn lên đỉnh đầu. Trang phục của họ phần cổ áo thêu hoa văn sặc sỡ, riêng chiếc yếm ngực còn gắn những bông hoa tám cánh chạm bằng bạc.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

47607679 3d85 4850 b0a5 376962a38c73 201606062
Nhà người Dao ở Lai Châu.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.

db5aecc3 b143 4854 a4af c6c229dd651c 201606063
Cấp sắc là nghi lễ truyền thống của những người đàn ông Dao đến tuổi trưởng thành. Trong ảnh thầy cúng đang làm lễ cấp sắc.

Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam – NXB Giáo dục)