Category Archives: Tin tức sự kiện

Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn: Xây dựng HTX kiểu mới vùng biên

Do trình độ phát triển và nhận thức HTX còn thấp, nên các HTX ở Lạng Sơn đến nay còn yếu, chưa phát huy thế mạnh vùng biên. Liên minh HTX tỉnh từ lâu đã chủ động phối hợp với các cấp ngành, thực hiện các giải pháp xây dựng một số HTX kiểu mới làm ăn hiệu quả.

Theo ông Hoàng Văn Sóng – Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn, từ khi có Luật HTX 2012, bên cạnh những cố gắng trong tham mưu chính sách, hàng năm Liên minh đều tổ chức các hoạt động tư vấn hỗ trợ HTX, nổi lên là triển khai các chính sách đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại và hỗ trợ HTX tiếp cận vốn vay phát triển.

Những HTX mạnh ở tỉnh

Nhiều năm nay, khu vực HTX ở Lạng Sơn hoạt động thiếu ổn định, còn khá cao tỷ lệ HTX yếu kém, cầm chừng, hay ngừng hoạt động.

Từ thực trạng đó, qua kinh nghiệm theo dõi hỗ trợ xây dựng HTX kiểu mới theo Luật HTX 2012, Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn nhận thấy việc chọn HTX “điểm” phải ở những địa bàn có thuận lợi vùng sản xuất hàng hóa tương đối tập trung. Nơi đó HTX thực sự có nhu cầu hợp tác đầu vào (giống cây con, vật tư…) và tiêu thụ sản phẩm.

Đồng thời, HTX chọn “điểm” phải có đội ngũ cán bộ quản lý nhiệt tình và tâm huyết, có năng lực điều hành và có ý chí làm giàu cho tập thể HTX và cho gia đình mình. Khi hỗ trợ xây dựng những mô hình HTX kiểu mới này, rất cần sự hỗ trợ của các cấp chính quyền, tạo điều kiện cho HTX được hưởng những chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

Kết quả gần đây, Lạng Sơn nổi lên một số mô hình HTX kiểu mới được xem là đơn vị mạnh của tỉnh, chủ yếu ở các lĩnh vực dịch vụ thương mại và sản xuất nông lâm nghiệp. Cụ thể như, HTX Hợp Thịnh (huyện Cao Lộc) đến ngày 15/12/2014 đã chuyển đổi xong theo Luật HTX 2012, với 20 thành viên, vốn điều lệ ban đầu 1 tỷ đồng được nâng lên 20 tỷ đồng, mở rộng kinh doanh dịch vụ chăn nuôi, trồng trọt và nuôi cá. Về hoạt động, HTX sau chuyển đổi đã biết chú trọng hơn việc nắm bắt thị trường, hàng năm quan tâm xây dựng phương án kinh doanh, gắn với công tác hạch toán kế toán…

Năm 2015, HTX tăng diện tích chuồng trại chăn nuôi trên 400m2, áp dụng chuỗi khép kín sinh thái VAC (vườn – ao – chuồng) và tiêu chuẩn chất lượng CP Việt Nam. Từ ổn định nguồn sản phẩm, HTX tích cực tìm kiếm đối tác tiêu thụ là DN, HTX trong và ngoài tỉnh, hợp tác xuất khẩu sang Trung Quốc.

 

Mô hình trồng bí đao bao tử HTX Thanh Niên ở xã Yên Thịnh (Hữu Lũng)

Kết quả doanh thu HTX tăng nhanh, từ gần 2 tỷ (2014) lên 4,3 tỷ (2015) và năm 2016 tăng doanh thu 6,5 tỷ đồng, đạt lợi nhuận 1,3 tỷ đồng và dư sức mở dịch vụ ra ngoài thành viên HTX, góp phần tích cực ổn định đời sống việc làm cho người dân vùng cao.

Ở huyện Bắc Sơn có HTX Lê Hồng Phong chuyên chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, tổ chức lại theo Luật HTX 2012 từ 6/4/2016, với 13 thành viên và tăng được vốn điều lệ lên 600 triệu đồng. Cùng với diện tích đất sản xuất, nhà kho do thành viên đóng góp, HTX thuê 21ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, gần đây, bình quân hàng năm đạt doanh thu 2 tỷ đồng, lợi nhuận 800 triệu đồng.

Giải pháp nhân rộng phát triển HTX

Ngoài hỗ trợ thành viên dịch vụ thủy sản như cá, cá lồng, cá giống…, HTX tổ chức tiêu thụ nông sản phẩm trên địa bàn huyện và mở rộng mạng lưới tiêu thụ vào Tp.Lạng Sơn và các huyện lân cận. Hiện HTX đang nghiên cứu tự sản xuất các loại thức ăn chăn nuôi, nhằm giảm chi phí giá thành và tạo thành chuỗi giá trị sản phẩm khép kín…

Số liệu tổng hợp mới ở Lạng Sơn có 127 HTX các loại hình, trong đó 91 HTX đang hoạt động, 36 HTX ngừng hoạt động trong diện giải thể bắt buộc. Rà soát toàn tỉnh có 61/127 HTX cần chuyển đổi theo Luật HTX 2012, gần đây đã có 57/61 HTX hoàn thành tổ chức lại theo Luật, còn 4 HTX chưa xong hoặc chuyển sang hình thức tổ chức khác.

Để nhân rộng một số mô hình HTX mạnh nêu trên, Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn đề xuất với tỉnh 6 giải pháp thực hiện củng cố và phát triển mới HTX trên địa bàn. Đáng kể nhất, Liên minh HTX tỉnh chủ động tham mưu với tỉnh cụ thể hóa chính sách ưu đãi HTX theo Quyết định 2261 về chương trình hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015 – 2020.

Đồng thời, Liên minh quan tâm hỗ trợ sáng lập viên phát triển mới HTX, phối hợp với từng cấp huyện lựa chọn sản phẩm chủ lực để xây dựng mô hình HTX phù hợp. Chú trọng củng cố và phát triển HTX gắn với chủ trương, kế hoạch của tỉnh triển khai xây dựng nông thôn mới và gắn với Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Lạng Sơn giai đoạn 2016 -2020.

Liên minh hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn có tân Phó Chủ tịch

Ngày 25/3, Ban Chấp hành Liên minh hợp tác xã (HTX) tỉnh Lạng Sơn khóa VI, nhiệm kỳ 2020-2025 tổ chức kỳ họp lần thứ 11 để bầu Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn.

IMG_1601.JPG (3984×2656)
Đồng chí Đoàn Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn phát biểu tại kỳ họp

Dự kỳ họp có đồng chí Đoàn Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cùng lãnh đạo một số sở, ban, ngành của tỉnh.

Tại kỳ họp, đồng chí Lê Tuấn Minh, nguyên Chủ tịch UBND huyện Văn Lãng được bầu tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh khóa VI, nhiệm kỳ 2020-2025.

IMG_1567.JPG (3984×2656)
Đồng chí Đoàn Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn tặng hoa chúc mừng tân Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn

Phát biểu tại kỳ họp, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn nhấn mạnh trong những năm qua, lĩnh vực kinh tế tập thể được các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo sát sao. Đồng chí mong muốn trên vị trí công tác mới, đồng chí Lê Tuấn Minh phát huy trình độ, năng lực để cùng tập thể Liên minh HTX tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh.

IMG_1611.JPG (3984×2656)
Đồng chí Lê Tuấn Minh, tân Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn phát biểu nhận nhiệm vụ

Phát biểu nhận nhiệm vụ, đồng chí tân Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh hứa sẽ không ngừng học hỏi, nỗ lực để nhanh chóng tiếp cận công việc. Đồng thời mong muốn lãnh đạo UBND tỉnh cùng các sở, ban, ngành, Liên minh HTX tỉnh tiếp tục quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện để đồng chí hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Trước đó, ngày 1/2/2024, đồng chí Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn đã được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh.

Lạng Sơn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(Mặt trận) – Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 5 huyện biên giới, 2 huyện nghèo; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông.  Trong thời gian qua, Lạng Sơn luôn đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc hỗ trợ đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình) góp phần nâng cao đời sống người dân và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân ở vùng dân tộc thiểu số.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giúp đời sống đồng bào các DTTS ở Lạng Sơn ngày càng khởi sắc. (Nguồn Báo Dân tộc và Phát triển).

Thực hiện Chương trình thời gian qua, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành cụ thể hóa các chủ trương, định hướng, quy định của Trung ương, của tỉnh. Theo đó, các cấp, các ngành đã xây dựng, ban hành các Quyết định, Kế hoạch để triển khai thực hiện và tăng cường công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với triển khai các phong trào thi đua của Trung ương, của tỉnh phát động….

Quá trình tổ chức, quản lý thực hiện chương trình được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình cấp tỉnh, 11/11 huyện, thành phố đã ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện; đồng thời hướng dẫn 181/181 xã thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp xã. Công tác lập kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch hằng năm; tăng cường cơ chế phân cấp trong huy động nguồn lực, nâng cao tính chủ động, linh hoạt của các cấp trong quản lý, tổ chức thực hiện.

Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường xuyên, đúng quy định; trong giai đoạn, ban chỉ đạo chương trình MTQG các cấp đã ban hành các kế hoạch kiểm tra, chương trình công tác của các ngành, của tỉnh. Hằng năm UBND tỉnh đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện các chương trình MTQG kết hợp với việc kiểm tra tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Việc lập, thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 và hằng năm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 tỉnh được giao là 4.178.824 triệu đồng, trong đó: ngân sách Trung ương 3.974.964 triệu đồng, ngân sách địa phương đối ứng 203.860 triệu đồng.

Trên cơ sở nguồn vốn kinh phí được giao, tỉnh đã phân bổ giai đoạn 2022-2024 là: 2.859.173 triệu đồng, trong đó: ngân sách trung ương 2.722.991 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 1.588.505 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 1.134.486 triệu đồng), ngân sách địa phương đối ứng 136.182 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 79.444 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 56.738 triệu đồng).

Từ nguồn vốn được phân bổ, các cơ quan, đơn vị, các cấp, ngành đã triển khai thực hiện giải ngân theo đúng mục đích của Chương trình đề ra. Đến nay, tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2021-2024 đã giải ngân (tính đến hết tháng 9/2024) là: 1.604.676 triệu đồng, đạt 56% so với kế hoạch vốn đã giao, trong đó: ngân sách trung ương 1.580.769 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 1.226.845 triệu đồng, vốn sự nghiệp 353.924 triệu đồng), ngân sách địa phương đối ứng 23.907 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 18.349 triệu đồng, vốn sự nghiệp 5.558 triệu đồng). Ước giải ngân đến hết năm 2024 đạt 86% so với kế hoạch vốn đã giao.

Qua 4 năm tập trung triển khai thực hiện 10 dự án thành phần thuộc Chương trình, kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, kinh tế phát triển khá toàn diện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3%/năm, dự kiến giai đoạn 2024-2025 tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2-2,5%. Đến thời điểm này đã có 11/47 xã đã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 23% so với kế hoạch giai đoạn; dự kiến đến hết năm 2025 có 47/47 xã, 47/47 thôn thuộc xã khu vực I, II và 268/268 thôn thuộc xã khu vực III thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 100% chỉ tiêu so với kế hoạch giai đoạn.

Từ các nguồn vốn của Chương trình đã thực hiện đầu tư cứng hóa mới 241,49/193km đường đến trung tâm xã, đường liên xã (vượt 25% kế hoạch giai đoạn); xây mới 02, cải tạo; sửa chữa 12 trạm y tế xã; xây mới 01 chợ và cải tạo, sửa chữa, nâng cấp 08 chợ; duy tu bảo dưỡng 159 công trình các loại; đầu tư xây dựng 71 phòng công vụ giáo viên; 102 phòng ở cho học sinh; hỗ trợ 65 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, 155 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng…

Tỉnh tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các xã, thôn, bản khó khăn nhất, giải quyết các vấn đề bức xúc, cấp bách nhất. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng. Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Theo Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, tính đến tháng10/2024, tỉnh đã thực hiện Dự án 1 hỗ trợ đất ở cho 03/142 hộ (đạt 2% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ nhà ở cho 1.040/2.015 hộ (đạt 52% kế hoạch giai đoạn);  hỗ trợ đất sản xuất cho 0/139 hộ (đạt 0% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 1.887/5.000 hộ (đạt 38% kế hoạch giai đoạn), hỗ trợ vay vốn chuyển đổi nghề 52.986 triệu đồng với 1.120 lượt hộ vay; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 6.933/11.000 hộ (đạt 63% kế hoạch giai đoạn); đầu tư xây dựng 48/24 công trình nước sinh hoạt tập trung (vượt 100% kế hoạch giai đoạn).

Tỉnh dự kiến thực hiện Dự án 1 đến hết năm 2025 chỉ đạt 80% kế hoạch vốn giai đoạn giao. Tiến độ thực hiện các nội dung thuộc dự án không đồng đều do không có quỹ đất thực hiện hỗ trợ, đối tượng thụ hưởng, nội dung chuyển đổi nghề trùng lặp với đối tượng thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; đối tượng hộ nghèo đăng ký hỗ trợ nhà ở ít, định mức hỗ trợ xây nhà cho hộ nghèo thấp (40 triệu đồng/hộ); Bộ, ngành Trung ương chưa ban hành văn bản thực hiện nội dung sửa chữa nhà dẫn đến một số nội dung, chỉ tiêu thực hiện đến hết giai đoạn khó đạt mục tiêu giai đoạn đề ra.

Đối với Dự án 2: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết tỉnh đã thực hiện 08/09 dự án ổn định dân cư, đạt 89% kế hoạch giai đoạn (trong đó: 02 dự án tại huyện Tràng Định, 02 dự án tại huyện Chi Lăng, 03 dự án tại huyện Bình Gia, 01 dự án tại huyện Lộc Bình). Các dự án đang trong quá trình thi công các hạng mục công trình, tiến độ triển khai tốt; đã thực hiện sắp xếp, hỗ trợ di dời cho 225 hộ (Lộc Bình 18 hộ, Bình Gia 207 hộ). Dự kiến thực hiện đến hết năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn giai đoạn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chương trình còn có những khó khăn, hạn chế Kết quả thực hiện một số dự án, tiểu dự án thuộc Chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu, kế hoạch đề ra: số lượng hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất thuộc Dự án 1; diện tích thực hiện hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng sản xuất thuộc Tiểu dự án 1 – Dự án 3…
; tỷ lệ hộ nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo có nguy cơ tái nghèo còn cao; mục tiêu của Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 giảm 50% xã, thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn chưa bảo đảm tính khả thi.

Để triển khai thực hiện tốt Chương trình trong giai đoạn tới, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, sát sao, phát huy vai trò của người đứng đầu trong việc bám sát quan điểm, mục tiêu và giải pháp để xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể, tập trung chỉ đạo và huy động các nguồn lực cho chương trình; phát huy vai trò của cán bộ trong triển khai, thực hiện chương trình, nhất là cán bộ cấp cơ sở.

Cùng đó, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa thiết thực của chương trình; tuyên truyền huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, báo chí trung ương, địa phương hoạt động trên địa bàn, chú trọng làm tốt công tác đối thoại với Nhân dân; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh tại cơ sở. Đồng thời, xác định mục tiêu phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, cơ sở; linh hoạt vận dụng các cơ chế, chính sách trong triển khai thực hiện, trao quyền tự chủ cho người dân và cộng đồng để họ thực sự là chủ thể trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình, chính sách, tạo động lực cho người dân vươn lên thoát nghèo.

Chính sách hỗ trợ đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn

Đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nếu thuộc đối tượng quy định có thể được hỗ trợ đất ở, đất nông nghiệp, đất sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở.
Phụ nữ dân tộc thiểu số thôn Nà Pái (xã Tân Văn, Bình Gia, Lạng Sơn) thu hoạch hoa hồi. Ảnh: PV

Hỏi: Theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thì những ai sẽ được hỗ trợ đất, gồm những loại đất nào, hạn mức ra sao?

Nông Thị Thanh Thảo (Văn Lãng, Lạng Sơn)

Trả lời

Nghị quyết số 18/2024/NQ-HĐND ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Lạng Sơn quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Những trường hợp áp dụng hỗ trợ đất đai

+ Đồng bào dân tộc thiểu số chưa có đất sinh hoạt cộng đồng.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) không có đất ở, không có đất nông nghiệp hoặc thiếu đất ở, thiếu đất nông nghiệp so với hạn mức.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng nay không còn đất ở, không còn đất nông nghiệp hoặc thiếu đất ở, thiếu đất nông nghiệp so với hạn mức.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) được Nhà nước cho thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở để sản xuất, kinh doanh.

Phụ nữ dân tộc thiểu số thôn Nà Pái (xã Tân Văn, Bình Gia, Lạng Sơn) thu hoạch hoa hồi. Ảnh: PV

Các loại đất đai được hỗ trợ và hạn mức

Hỗ trợ đất sinh hoạt cộng đồng

Đồng bào dân tộc thiểu số chưa có đất sinh hoạt cộng đồng được Ủy ban nhân dân cấp huyện bố trí quỹ đất sinh hoạt cộng đồng gắn với hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo diện tích tối thiểu là 200 m2.

Hỗ trợ đất ở

1. Trường hợp cá nhân không có đất ở thì được giao đất ở hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh và được miễn tiền sử dụng đất.

2. Trường hợp cá nhân đã được giao đất ở theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nay không còn đất ở hoặc thiếu đất ở so với hạn mức thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.

Hỗ trợ đất nông nghiệp

1. Trường hợp cá nhân không có đất nông nghiệp thì được hỗ trợ giao đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thu tiền sử dụng đất.

2. Trường hợp cá nhân đã được Nhà nước giao đất theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nay không còn đất nông nghiệp hoặc diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng không đủ 50% diện tích đất so với hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.

Hỗ trợ thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở

Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để sản xuất, kinh doanh và được giảm 50% tiền thuê đất.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 11 năm 2024. Hội đồng nhân dân giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh kết quả thực hiện theo quy định.

Lạng Sơn: Chính sách dân tộc tạo động lực để đồng bào DTTS vươn lên

Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 5 huyện biên giới, 2 huyện nghèo; tỷ lệ người DTTS chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông. Trong thời gian qua, Lạng Sơn luôn đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc hỗ trợ đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao đời sống người dân và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân ở vùng DTTS.

Ban Dân tộc Lạng Sơn kiểm tra, rà soát việc triển khai, thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tại huyện Chi Lăng

Nhằm nâng cao đời sống đồng bào DTTS, tỉnh Lạng Sơn đã xác định triển khai Chương trình MTQG giảm ghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719); Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 là những nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, triển khai Chương trình MTQG 1719 cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, tích cực triển khai Chương trình, trong đó cũng đã chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực triển khai Chương trình.

Theo đó, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện chương trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng; phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Đồng thời, huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư các chương trình, dự án để lồng ghép thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa; ổn định dân cư; hỗ trợ trồng rừng sản xuất; hỗ trợ, tập huấn kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi; hỗ trợ nhà ở, sửa chữa nhà cho hộ nghèo…

Xác định an cư mới lạc nghiệp, những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã lồng ghép các chương trình, dự án; huy động các nguồn vốn từ các Chương trình MTQG, các chương trình, dự án và kêu gọi xã hội hóa để hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.

Đơn cử tại huyện Văn Quan (Lạng Sơn), qua rà soát, thẩm định, tổng hợp danh sách trên địa bàn huyện có 185 hộ nghèo, cận nghèo cần được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở, trong đó 94 hộ sửa chữa và 91 hộ xây mới, với tổng kinh phí hơn 5 tỷ 300 triệu đồng. Đến nay, các hộ nghèo, cận nghèo đã và đang tiến hành xây dựng, sửa chữa nhà ở.

Gia đình bà Hoàng Thị Hản, thôn Bó Cáng, xã Tú Xuyên (Văn Quan-Lạng Sơn), thuộc diện hộ nghèo, bao năm phải sinh sống trong căn nhà tạm bợ. Năm nay, gia đình bà được nhà nước hỗ trợ 40 triệu đồng làm nhà ở. Bà mạnh dạn vay mượn thêm của họ hàng để xây dựng căn nhà mới, với đầy đủ công năng sử dụng. Hiện ngôi nhà đang trong quá trình hoàn thiện, các thành viên trong gia đình đều yên tâm, phấn khởi, cố gắng làm ăn để có được cuộc sống tốt hơn.

Bà Hoàng Thị Hản cho biết: Năm 2023 được sự hỗ trợ của Nhà nước, gia đình tôi cũng có thêm một số nguồn lực làm được ngôi nhà, đến giờ cũng sắp hoàn thiện, tôi vui lắm.

Ông Triệu Đức Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Quan, Lạng Sơn cho biết: Những năm qua, huyện luôn quan tâm triển khai các chính sách dân tộc, thực hiện tốt các chế độ chính sách chăm lo cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh, qua đó đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ngày càng được nâng lên.

“Thực hiện dự án hỗ trợ về nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, huyện đã triển khai sửa chữa nhà ở cho 94 hộ, xây mới cho 91 hộ với số kinh phí trên 5 tỷ đồng, chương trình đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân nâng cao đời sống, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội chung của huyện”- ông Dũng nhấn mạnh.

Triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG 1719, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn tổ chức lớp tập huấn nâng cao truyền dạy Hát dân ca năm 2023

Tỉnh Lạng Sơn cũng đã tập trung triển khai thực hiện 10 dự án thành phần thuộc Chương trình MTQG 1719. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Vùng đồng bào DTTS tỉnh Lạng Sơn ngày càng phát triển

Xác định liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm là mắt xích quan trọng, hướng đi bền vững trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân. Chính vì vậy, các hình thức liên kết trong sản xuất nông, lâm nghiệp và tiêu thụ nông sản hàng hóa ở Lạng Sơn đã hình thành và phát triển với nhiều hình thức. Hiện nay, một số hợp tác xã đã tham gia vào liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, xây dựng được thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường.

Đơn cử như Hợp tác xã (HTX) Sản xuất, kinh doanh hồng Vành khuyên Nà Mò, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã phát huy hiệu quả trong việc phát triển sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng Vành khuyên cho bà con trên địa bàn xã Tân Mỹ và các xã lân cận.

Ông Hoàng Văn Hậu, Giám đốc HTX Sản xuất, kinh doanh hồng Vành khuyên Nà Mò cho biết: HTX liên kết với bà con trong vùng và các vùng lân cận để thu mua, kết nối tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân. Mỗi năm, đến vụ thu hoạch hồng HTX tổ chức thu mua cho các xã viên kết nối thương lái ở các nơi để bao tiêu sản phẩm cho bà con.

Việc hình thành được liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, đồng thời, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo vùng nguyên liệu và ổn định đầu ra cho sản phẩm.

Bà Lô Thị Kim Oanh, Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Văn Lãng, Lạng Sơn cho biết: phòng tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo tuyên truyền các hộ dân trên địa bàn huyện tiếp tục nâng cao mở rộng diện tích sản xuất để tạo thành vùng nguyên liệu tập trung. Đồng thời tiếp tục duy trì và cũng cố các chuỗi đã hình thành và sẽ mở rộng ra phát triển sản xuất đối với các cây chủ lực trên địa bàn huyện để đạt hiệu quả hơn.

Với những giải pháp, chính sách cụ thể được triển khai đã tạo đà để đồng bào DTTS vươn lên có cuộc sống ổn định hơn. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 12,02% (năm 2021) xuống còn 8,92% (năm 2022).

Lạng Sơn: Triển khai nhiều chính sách nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(PLVN) – Năm 2023, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đạt nhiều kết quả tích cực. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 2 huyện nghèo, 5 huyện biên giới; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, với 07 dân tộc chủ yếu là: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 19,28%; quy mô nền kinh tế nhỏ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; hạ tầng còn khó khăn…. Do đó, tỉnh xác định việc triển khai thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng tâm.

Trong năm 2023, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành kế hoạch số 59 /KH-UBND, trong đó tập trung, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội có trọng tâm, trọng điểm đối với vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn, đảm bảo để các xã, thôn thoát nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS &MN trên địa bàn tỉnh đạt mục tiêu giảm bình quân 3,0%/năm.

Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện kịp thời và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. (Ảnh; Lê Hanh)

Năm 2023, tỉnh cũng phấn đấu đạt mục tiêu 05 xã thoát khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn 01 xã; huyện Bình Gia 01 xã; huyện Văn Quan: 01 xã; huyện Lộc Bình: 01 xã; huyện Đình Lập: 01 xã; 24 thôn thuộc xã khu vực I, II thoát khỏi địa bàn thôn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn là 04 thôn; huyện Chi Lăng là 10 thôn; huyện Hữu Lũng là 02 thôn; huyện Đình Lập là 06 thôn; huyện Văn Lãng là 02 thôn.

Ông Lương Trọng Quỳnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cho biết: “Việc thực hiện phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn luôn bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả và kịp thời giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, tổ chức triển khai thực hiện, phấn đấu hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ đề ra”.

Trong năm qua, tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho đồng bào DTTS và miền núi. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)
Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)

Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng DTTS&MN và các đơn vị sự nghiệp công của lĩnh vực dân tộc, bao gồm việc đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống và đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp mạng lưới chợ vùng đồng bào DTTS&MN.

Đối với giáo dục, tỉnh tăng cường đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Bên cạnh đó, bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học; phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng DTTS&MN. Tăng cường thực hiện chính sách đầu tư y tế xã đạt chuẩn, mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hộ dân tộc thiểu số;

Chăm sóc cải thiện sức khoẻ của người DTTS bằng công tác y tế cơ sở để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào DTTS&MN. Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội nhằm nâng cao đồi sống cho đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn.

Cùng với đó, tỉnh cũng chú trọng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức của đồng bào về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo là những đối tượng có tiếng nói trong địa bàn thôn, bản để họ trực tiếp vận động đồng bào tích cực tham gia giáo dục pháp luật ; nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng cho vùng đồng bào DTTS&MN về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Để thực hiện các dự án này, Ban Dân tộc tỉnh là đầu mối thống nhất theo dõi, đôn đốc, tổng hợp các chính sách dân tộc; đề xuất và tham gia thẩm định chính sách, các dự án đầu tư liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung trong Kế hoạch, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu đã đề ra. Tiến hành sơ kết, đánh giá các chỉ tiêu trong Kế hoạch, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính rà soát, đề xuất, điều chỉnh bổ sung các dự án đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế, báo cáo UBND tỉnh.

Lạng Sơn tập trung xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển toàn diện

Trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh cho biết, công tác dân tộc và việc thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; nhiều chương trình, dự án, chính sách dân tộc được triển khai thực hiện hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh Lạng Sơn đã đạt được kết quả nổi bật gì, thưa ông?

– Qua hơn 2 năm thực hiện CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cùng với CTMTQG xây dựng nông thôn mới, CTMTQG giảm nghèo bền vững và các giải pháp triển khai nhiệm vụ phát triển KT-XH, tỉnh Lạng Sơn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, quyết liệt thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu KT-XH quan trọng, qua đó hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, đầu tư mới, hoàn thành, góp phần đáng kể thúc đẩy tăng trưởng KT, bảo đảm an sinh XH, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển KT-XH 5 năm đã đề ra, cụ thể một số lĩnh vực nổi bật như:

Kinh tế tỉnh Lạng Sơn phục hồi đà tăng trưởng, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2022 đạt 7,22%, 6 tháng đầu năm 2023 đạt 5,32%; các khu vực kinh tế đều có chuyển biến tích cực. Lĩnh vực giao thông, lũy kế từ đầu giai đoạn đến nay đã đầu tư cứng hoá được thêm 93,6km đường tỉnh, đạt 98,9% (706,8/714,8km); cứng hoá được trên 110km các tuyến đường huyện, nâng tỷ lệ cứng hoá đạt 83%; ước thực hiện đến hết năm 2023 tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông đạt 174/181 xã, đạt 96,1%…

Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2022 ước tăng 7,09%, 6 tháng đầu năm 2023 tăng 5,79% so với cùng kỳ. Các sở, ngành, cơ quan đã phối hợp với Điện lực Lạng Sơn hoàn thành lưới điện nông thôn, hoàn thành các tiêu chí điện còn thiếu của các xã phấn đấu về đích nông thôn mới, đầu tư khởi công một số công trình phục vụ cho thu hút phát triển khu, cụm công nghiệp,…

Về nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2022 ước đạt 94.031ha, tổng sản lượng lương thực 304.944 tấn, đạt 101,33% kế hoạch; trong giai đoạn 2021 – 2023 đã hoàn thành sửa chữa nâng cấp 10 hồ chứa, góp phần bảo đảm an toàn hồ đập; lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá tiếp tục đạt được nhiều kết quả.

Xây dựng nông thôn mới đã hoàn thành 21/50 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 42% so với mục tiêu đề ra (dự kiến năm 2023 có thêm 10 xã đạt chuẩn), 10/25 xã nông thôn mới nâng cao mới (dự kiến năm 2023 có thêm 5 xã); giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm đạt 3% đáp ứng mục tiêu đề ra.

Đối với một tỉnh miền núi, điều kiện KT-XH còn khó khăn, xin ông cho biết những khó khăn, vướng mắc mà tỉnh đã và đang gặp phải trong quá trình triển khai các CTMTQG?

– Đến thời điểm hiện tại, việc thực hiện các CTMTQG trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói chung và CTMTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể như: Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của 3 CTMTQG năm 2022 cơ bản đạt theo kế hoạch đề ra, tuy nhiên còn ở mức thấp, các chỉ tiêu quan trọng đánh giá tính bền vững chưa cao, đặc biệt là chỉ tiêu về thu nhập, chỉ tiêu về giảm tỷ lệ hộ nghèo, các chỉ tiêu thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản còn ở mức cao, đặc biệt là ở nhóm hộ nghèo.

Chưa có hướng dẫn thống nhất của Trung ương về tổ chức, biên chế, nhiệm vụ của bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo; chưa rõ nội dung quy định về kinh phí, cơ chế hoạt động, điều hành của Ban Chỉ đạo ở cấp tỉnh.

Tỉnh Lạng Sơn tiếp tục triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia với tinh thần “bám trên, sát dưới”, tỉnh chủ động triển khai, đồng thời phải sâu sát cơ sở, không thụ động chờ chỉ đạo của cấp trên trong thực hiện nội dung các Chương trình mục tiêu quốc gia; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; khắc phục tâm lý chủ quan, sợ sai không dám làm…

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lương Trọng Quỳnh.

Tại thời điểm giao kế hoạch vốn thực hiện năm 2022, vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2021 – 2025 thực hiện các CTMTQG, các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện của các cấp, ngành chưa đầy đủ trong quá trình lập, thẩm định, phân bổ kế hoạch vốn làm cơ sở xác định đối tượng, phạm vi, quy mô thực hiện. Nguồn vốn được phân bổ muộn ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn năm.

Nhu cầu nguồn lực để thực hiện 3 CTMTQG trên địa bàn rất lớn, nhất là vốn đầu tư phát triển; trong khi đó nguồn vốn phân bổ hỗ trợ còn hạn chế. Việc lồng ghép các nguồn vốn thực hiện bị hạn chế bởi các quy định về địa bàn thực hiện. Đồng thời nguồn thu ngân sách tỉnh còn hạn chế, nên việc cân đối, bố trí vốn đối ứng thực hiện 3 CTMTQG gặp khó khăn; việc huy động các nguồn vốn thực hiện các CTMTQG còn chậm so với nhu cầu kế hoạch vốn. Kết quả rà soát đến thời điểm hiện nay nguồn vốn sự nghiệp của một số dự án, tiểu dự án không bảo đảm giải ngân hết kế hoạch vốn năm 2023 và vốn năm 2022 kéo dài sang do trùng lặp về đối tượng thực hiện, đối tượng chi giảm so với số liệu đã báo cáo đầu kỳ.

Riêng đối với CTMTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn gặp một số khó khăn, cụ thể như: tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giữa các giai đoạn có sự khác biệt nhưng nhiều chính sách lại áp dụng đối tượng thực hiện giữa các giai đoạn như nhau nên việc triển khai thực hiện gặp khó khăn và bất cập; định mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng còn thấp (400.000 đồng/ha/năm) nên người dân chưa quan tâm, chú trọng vào công tác quản lý bảo vệ rừng, không tha thiết tham gia nhận hỗ trợ khoán bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên; việc bố trí lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho cùng một đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ từ 1 CTMTQG trên 1 lớp học cũng gặp nhiều khó khăn; cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải tuyển sinh nhiều loại đối tượng và thực hiện thanh quyết toán từ nhiều CTMTQG khác nhau trên một lớp học; việc hỗ trợ, phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị khó triển khai thực hiện do điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế, địa bàn xa trung tâm; sự liên kết, hợp tác giữa các hợp tác xã với các doanh nghiệp chưa nhiều, năng lực quản lý chưa cao, thiếu vốn, thiếu khoa học kỹ thuật…

Kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn có nhiều khởi sắc. (Ảnh: Mai Linh/VOV)
Kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn có nhiều khởi sắc. (Ảnh: Mai Linh/VOV)

Trong thời gian tới, tỉnh Lạng Sơn có những giải pháp gì để khắc phục hạn chế, cũng như định hướng cho việc triển khai chương trình?

– Với đặc thù có 83,91% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số, tỉnh Lạng Sơn xác định việc thực hiện các CTMTQG nói chung và CTMTQG phát triển KT-XH vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2021 – 2025. Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tiếp tục thực hiện hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu theo kế hoạch, tỉnh Lạng Sơn đề ra 5 giải pháp như sau:

Một là, tiếp tục tăng cường, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, huy động người dân, doanh nghiệp tích cực tham gia vào các CTMTQG, lồng ghép nguồn vốn, huy động nguồn lực từ các tổ chức chính trị – xã hội, nguồn lực xã hội hóa, sự vào cuộc tích cực của nhân dân để hoàn thành các tiêu chí chưa đạt, tập trung thực hiện, duy trì các chỉ tiêu bền vững như các chỉ tiêu thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, các chỉ tiêu về thu nhập người dân nông thôn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn sang nông nghiệp bền vững và các ngành công nghiệp, dịch vụ.

Hai là, tập trung chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thành hệ thống văn bản cơ chế chính sách, hướng dẫn thuộc phạm vi của tỉnh, bảo đảm hoàn thành 100% văn bản cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện các CTMTQG thuộc thẩm quyền của tỉnh.

Ba là, tổ chức thực hiện rà soát tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch vốn thực hiện các CTMTQG giai đoạn 2021 – 2025: trong năm 2023 tập trung rà soát đánh giá khả năng thực hiện các chỉ tiêu giai đoạn 2021 – 2025 và năm 2023; đề xuất phương án thực hiện, phương án huy động nguồn lực ngoài kế hoạch vốn đã được phê duyệt để triển khai thực hiện hoàn thành mục tiêu; trường hợp xác định không đạt mục tiêu nhiệm vụ được giao kịp thời báo cáo Bộ, ngành Trung ương theo quy định.

Bốn là, tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo UBND các huyện, thành phố tập trung cao độ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, bám sát công việc, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các CTMTQG, bảo đảm phấn đấu tỷ lệ giải ngân kế hoạch vốn cao nhất theo chỉ đạo của Chính phủ; chủ động rà soát, nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn, trên tinh thần những nội dung nào đã rõ, phù hợp với thực tiễn thì triển khai ngay, không chờ đủ các văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh mới bắt đầu triển khai; tập trung đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn thực hiện các CTMTQG đã được giao, trong đó cần quan tâm chỉ đạo giải ngân nguồn vốn sự nghiệp đối với những nội dung đã rõ, đã có hướng dẫn thực hiện; bảo đảm tỷ lệ huy động, lồng ghép các nguồn vốn thực hiện các chương trình.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện các Chương trình; nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo các CTMTQG các cấp để nắm bắt ngay những khó khăn, vướng mắc, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ, giải quyết.

Trân trọng cảm ơn ông!

Những giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn

(Mặt trận) – Những năm gần đây, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với chính quyền và các ngành chức năng triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, thực hiện công tác giảm nghèo bền vững, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Ủy ban Mặt trận tỉnh cũng đã thực hiện có hiệu quả các chính sách về giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, tuyên truyền nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Phó Chủ tịch Ngô Sách Thực thăm hỏi động viên bà con người Dao Lù Gang (thôn Trà Ký, xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), tháng 11/2022. Ảnh Đại đoàn kết

Những năm qua, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với tuyên truyền các sự kiện quan trọng của đất nước, của dân tộc. Đã tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc đi bỏ phiếu thực hiện quyền và nghĩa vụ của cử tri, lựa chọn những đại biểu tiêu biểu tham gia vào cơ quan quyền lực của Nhà nước và địa phương; tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc với các hình thức đa dạng; tổ chức các lớp tập huấn về “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số”.

Từ năm 2015 đến nay, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã phối hợp với các tổ chức thành viên và các ngành chức năng đã tổ chức tuyên truyền lồng ghép được trên 35.120 cuộc cho trên 2,5 triệu lượt người nghe; đã phát được 500 số chuyên mục Đại đoàn kết và trên 5.000 tin, bài trên sóng truyền hình tỉnh Lạng Sơn, Báo Lạng Sơn và Trang Thông tin điện tử của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên phối hợp với các tổ chức thành viên phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của Nhân dân tham gia thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động ở khu dân cư, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giúp đồng bào dân tộc vươn lên, thời gian qua, tỉnh Lạng Sơn đã tích cực triển khai các hoạt động nhằm giúp đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nâng cao đời sống. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh tham mưu cho cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên triển khai có hiệu quả, nhằm phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới. Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt nếp sống văn minh, nâng cao chất lượng “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư văn hóa”, từng bước xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, vận động đồng bào các dân tộc phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc thông qua tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, văn nghệ, khôi phục và duy trì các lễ hội truyền thống, những điệu hát then, múa sư tử… thông qua tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11). Ngày hội Biên phòng toàn dân (3/3), góp phần phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, giữ gìn trật tự an ninh thôn, bản. Trong quá trình thực hiện cuộc vận động đã có nhiều mô hình, cách làm hay được triển khai trong cộng đồng như: mô hình phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại huyện Chi Lăng; mô hình chung tay xây dựng khu dân cư “Sáng-xanh-sạch-đẹp” tại huyện Tràng Định, huyện Chi Lăng; mô hình phong trào quần chúng tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc tại xã Thanh Lòa, xã Bảo Lâm, huyện Cao Lộc, xã Đội Cấn, huyện Tràng Định; mô hình “Khu dân cư bảo đảm trật tự an toàn giao thông”, “Khu dân cư phòng, chống tội phạm ma túy”, “Khu dân cư không bạo lực gia đình”… Tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, chính sách, tập trung giải quyết các nhu cầu bức thiết của người dân, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn; công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ làm.

Từ năm 2015 đến nay, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh Lạng Sơn đã vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” được trên 41 tỷ đồng, đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 1.003 ngôi nhà cho hộ nghèo trị giá trên 23,7 tỷ đồng, tặng quà tết, hỗ trợ thăm hỏi 12.308 suất trị giá trên 6,5 tỷ đồng… Hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về “Toàn dân tham gia ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19”, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã tổ chức phát động các tập thể, cá nhân ủng hộ được trên 27,3 tỷ đồng tiền mặt và trên 12,7 tỷ đồng hiện vật. Từ nguồn quỹ thu được, đã tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm cho các đơn vị tham gia phòng, chống dịch Covid-19; hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch.

Bên cạnh đó, việc phối hợp thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách về dân tộc và công tác dân tộc, từ năm 2015 đến nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên đã giám sát bằng hình thức xem xét văn bản được 1.380 văn bản; thành lập đoàn giám sát được 1.060 cuộc; tham gia giám sát được 5.135 cuộc, cụ thể một số đơn vị điển hình như: Tỉnh đoàn Lạng Sơn giám sát được 49 cuộc, đoàn cấp huyện giám sát được 87 cuộc; Hội Cựu chiến binh giám sát được 15 cuộc; Hội Nông dân tổ chức giám sát được 20 đoàn; các cấp công đoàn đã giám sát được 285 cuộc; Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã tổ chức được 35 cuộc. Phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm qua, các Ban Thanh tra nhân dân đã tiến hành giám sát 2.125 cuộc; Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng giám sát được 2.230 cuộc, qua giám sát đã kiến nghị xử lý nhiều vụ việc sai phạm, góp phần hạn chế những tiêu cực ở cơ sở, làm minh bạch quản lý đất đai, vốn, tài sản của Nhà nước, các dự án đầu tư của cộng đồng… tạo lòng tin trong Nhân dân, giảm thiểu đơn thư khiếu nại, tố cáo, giữ vững ổn định địa phương.

Cũng từ năm 2015 đến nay, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức 13 cuộc khảo sát nắm tình hình kinh tế – xã hội và đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo tại các huyện; đã tổ chức giám sát về kết quả thực hiện một số chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Đại An, huyện Văn Quan; tổ chức 22 cuộc giám sát thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 10 cuộc giám sát việc thực hiện Dự án nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; tổ chức 5 cuộc khảo sát nắm bắt tình hình về một số nội dung công tác dân tộc và giám sát kết quả thực hiện đầu tư các dự án như: dự án ổn định dân cư, di dân thành lập thôn bản mới giáp biên giới Việt – Trung; tổ chức 17 cuộc về việc phối hợp giám sát đối với Ủy ban nhân dân các huyện và sở, ngành liên quan thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

Qua công tác khảo sát, giám sát tại các huyện, cơ sở, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã có các ý kiến, kiến nghị, đề xuất với các cơ quan chức năng của tỉnh, huyện và cơ sở về những vấn đề liên quan thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước và tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn của tỉnh.

Công tác phát huy vai trò người uy tín tiêu biểu đã được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tham mưu cho cấp ủy Đảng lãnh đạo, chính quyền quan tâm chỉ đạo đồng bộ với nhiều nội dung, hình thức thiết thực, hiệu quả. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh hàng năm phối hợp với các ngành chức năng tiến hành tổ chức thẩm định danh sách người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được đề xuất, giới thiệu từ cơ sở cộng đồng dân cư theo Quyết định 56 và Quyết định số 12 của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận. Tổng số người có uy tín trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2015 đến này là: 13.702 lượt người được công nhận.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã thường xuyên quan tâm động viên, phát huy vai trò người uy tín trong việc tham gia phòng, chống tội phạm, thực hiện nếp sống văn hóa, bài trừ các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội, tích cực sản xuất, kinh doanh… Đội ngũ người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đã luôn gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua, các cuộc vận động; động viên con cháu, cộng đồng dân cư thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, giữ gìn trật tự thôn bản, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở đoàn kết, vững mạnh. Tỉnh Lạng Sơn có 75/181 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 82 khu dân cư kiểu mẫu được công nhận đạt chuẩn; chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo được nâng lên, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn tiếp tục được chú trọng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh Lạng Sơn giảm từ 7,88% năm 2020 xuống còn 5,76% năm 2021 (tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 là 12,20%).

Dù vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn còn chậm phát triển, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao; việc nhân rộng các mô hình sản xuất mới gắn với tiêu thụ sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong thời gian tới, tỉnh Lạng Sơn xác định thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, cũng như góp phần cùng các địa phương khác trong cả nước thực hiện hoàn thành các mục tiêu của các chương trình.

Một số bài học kinh nghiệm qua gần 7 năm triển khai thực hiện Kết luận số 01/KL-ĐCT của Đoàn Chủ tịch và hướng dẫn số 25/HD-MTTW-BTT ngày 6/10/2015 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh Lạng Sơn quán triệt triển khai bằng nhiều hình thức đa dạng, đồng bộ, đó là:

Thứ nhất, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp của tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều đổi mới trong phương thức tiếp cận với đồng bào dân tộc thiểu số. Phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền và triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, công tác dân tộc; tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc phát động, các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Hai là, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với chính quyền, các, sở, ban, ngành, tổ chức thành viên triển khai thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đạt các mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của đồng bào vùng dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

Ba là, thông qua việc thực hiện Kết luận số 01/KL-ĐCT của Đoàn Chủ tịch đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và có nhiều chuyển biến tích cực về công tác dân tộc của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên từ cấp tỉnh đến cơ sở. Công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc với chính quyền và các tổ chức thành viên tiếp tục được tăng cường. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động: Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và phong trào đoàn kết sáng tạo, chú trọng nâng cao về chất lượng và hiệu quả. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội đối với các chính sách ở vùng dân tộc thiểu số từng bước được nâng lên. Các mô hình phát triển kinh tế Hợp tác xã và hộ gia đình gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới được đồng bào các dân tộc tích cực hưởng ứng, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, giữ vững quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc.

Bốn là, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp của tỉnh Lạng Sơn đã phát huy tốt vai trò của người uy tín và người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã thực hiện tốt công tác tập hợp các tầng lớp nhân dân, thu hút, động viên Nhân dân các dân tộc, huy động được nhiều nguồn lực trong Nhân dân và các tổ chức, các doanh nghiệp hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, các Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng trong việc giám sát thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Cao Thị Ngọc Thủy

 Ban Dân tộc, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tỉnh ủy Lạng Sơn chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số trong nhiệm kỳ 2020 – 2025

TCCS – Phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng trong chiến lược cán bộ của Đảng. Từ thực tiễn chỉ đạo chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2020 – 2025, Tỉnh ủy Lạng Sơn chia sẻ một số nhận thức, kết quả, kinh nghiệm, phương hướng và giải pháp để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả, nhằm đáp ứng yêu cầu đề ra trong giai đoạn tới.

Về cơ cấu đội ngũ cán bộ của tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc. Cơ cấu dân cư gồm 7 dân tộc chủ yếu, trong đó dân tộc Kinh chiếm 16,1%, các dân tộc thiểu số chiếm 83,9% (dân tộc Nùng chiếm 42,9%, dân tộc Tày chiếm 36,1%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác)(1). Tỉnh gồm 10 huyện và 1 thành phố, trong đó có 5 huyện, 20 xã và 1 thị trấn khu vực biên giới. Tỉnh ủy Lạng Sơn có 15 đảng bộ trực thuộc (10 đảng bộ huyện, 1 đảng bộ thành phố, 4 đảng bộ trực thuộc), 746 tổ chức cơ sở đảng (300 đảng bộ, 446 chi bộ cơ sở), với 64.672 đảng viên, trong đó có 25.301 đảng viên nữ (tỷ lệ 39,12%), 51.306 đảng viên là người dân tộc thiểu số (tỷ lệ 79,33%).

Đồng chí Bàn Thị Thanh, Phó trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội – Dân tộc huyện Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn) cùng bà con đồng bào dân tộc thiểu số tìm hiểu thông tin trên báo chí_Ảnh: baodantoc.vn

Chủ trương phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số được cụ thể hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, gần đây nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trong quá trình chuẩn bị nhân sự mỗi kỳ đại hội đảng bộ các cấp, yêu cầu về tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số luôn được đặt ra thường phải bằng hoặc cao hơn nhiệm kỳ trước, dẫn đến nhiều địa phương, đơn vị phải cố gắng cao để đạt được tỷ lệ này.

Với tinh thần luôn quán triệt, triển khai nghiêm túc, kịp thời các chủ trương, nghị quyết, quy định của Trung ương, xuất phát từ thực tế tình hình đội ngũ cán bộ của một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, hạn chế và từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh, thời gian qua, Tỉnh ủy Lạng Sơn đặc biệt quan tâm và tập trung nhiều cho công tác cán bộ; trong đó, chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý, ngang tầm nhiệm vụ.

Theo số liệu đầu nhiệm kỳ 2015 – 2020 của Đảng bộ tỉnh, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy các cấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước. Cấp tỉnh: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có 54 đồng chí, trong đó cán bộ trẻ có 3/54 đồng chí, chiếm 5,6%; cán bộ nữ có 9/54 đồng chí, chiếm 16,7%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 29/54 đồng chí, chiếm 53,7%. Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 14 đồng chí, trong đó cán bộ nữ là 2 đồng chí, chiếm 14,3% (hiện nay là 3 đồng chí, chiếm 21,43%); cán bộ là người dân tộc thiểu số có 7 đồng chí, chiếm 50%; lãnh đạo chủ chốt Tỉnh ủy có 1 đồng chí là nữ, chiếm 33,3%. Cấp huyện: Ban chấp hành đảng bộ các huyện ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy có 516 đồng chí; trong đó cán bộ trẻ là 88 đồng chí, chiếm 17,05%; cán bộ nữ là 114 đồng chí, chiếm 22,09%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 372 đồng chí, chiếm 72,09%. Cấp xã: Ban chấp hành các đảng bộ xã, phường, thị trấn có 2.592 đồng chí; trong đó, cán bộ trẻ có 1.217 đồng chí, chiếm 46,9%; cán bộ nữ là 512 đồng chí, chiếm 19,7%; cán bộ là người dân tộc thiểu số gồm 2.314 đồng chí, chiếm 89,3%.

Những kết quả đã đạt được đó chính là cơ sở thực tiễn và là tiền đề quan trọng để Tỉnh ủy Lạng Sơn xây dựng phương án nhân sự và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã trong nhiệm kỳ 2020 – 2025. Tỉnh ủy Lạng Sơn đặt quyết tâm tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ, trước mắt chuẩn bị thật tốt nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ 2020 – 2025, trong đó chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Nỗ lực của Đảng bộ tỉnh trong xây dựng đội ngũ cán bộ thời gian qua

Tập trung cho công tác chuẩn bị, tạo nguồn cán bộ.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ 2015 – 2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt hai đề án quan trọng: “Đề án xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 và những năm tiếp theo” và “Đề án quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025 và những năm tiếp theo”(2). Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 86-KH/TU, ngày 4-10-2018, trong đó có sự điều chỉnh, cập nhật các chỉ tiêu trong hai đề án nêu trên về tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã chủ động nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp trong tỉnh tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Đến thời điểm hiện nay, kết quả rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy các cấp của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2020 – 2025 đều đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó hệ số quy hoạch đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đều tăng so với nhiệm kỳ trước và có tính khả thi cao. Đây sẽ là nguồn cán bộ dồi dào để xem xét, giới thiệu cho đại hội đảng bộ các cấp. Cụ thể, trong Quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh: Cán bộ trẻ có 14/97 đồng chí, chiếm 14,4% (chỉ tiêu cần đạt là 10%); cán bộ nữ có 28/97 đồng chí, chiếm 28,86% (chỉ tiêu cần đạt là 15%); cán bộ là người dân tộc thiểu số có 54/97 đồng chí, chiếm 55,7%. Trong quy hoạch ban chấp hành của 15 đảng bộ cấp huyện và tương đương, số cán bộ trẻ là 370/798 đồng chí, chiếm 46,4%; cán bộ nữ là 230/798 đồng chí, chiếm 28,8%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 567/798 đồng chí, chiếm 71,1%. Trong quy hoạch ban chấp hành đảng bộ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh: Cán bộ trẻ có 2.359/3.497 đồng chí, chiếm 67,5%; cán bộ nữ có 1.145/3.497 đồng chí, chiếm 32,7%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 2.915/3.497 đồng chí, chiếm 83,4%.

Cùng với việc quy hoạch, tỉnh đã đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và luân chuyển để rèn luyện cán bộ qua thực tiễn. Thời gian qua, tỉnh đã mở lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII cho 101 đồng chí; mở 8 lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho 1.281 lượt cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; cử 294 lượt cán bộ đi học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc theo kế hoạch của tỉnh và 52 lượt cán bộ đi bồi dưỡng theo kế hoạch của Trung ương; cử đi đào tạo trình độ lý luận chính trị 6.575 lượt cán bộ (Cao cấp lý luận chính trị: 681 lượt; Trung cấp lý luận chính trị: 4.103 lượt; Sơ cấp lý luận chính trị: 1.791 lượt); 483 lượt cán bộ tham gia đào tạo chuyên môn sau đại học (tiến sĩ và tương đương: 48 lượt; thạc sĩ: 435 lượt)Từ năm 2016 đến nay, có 407 lượt cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào các chức danh diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý (điều động, bổ nhiệm 101 lượt; giới thiệu cán bộ ứng cử 273 lượt; luân chuyển 33 lượt); trong đó, cán bộ trẻ là 39/407, chiếm 9,6%; cán bộ nữ là 106/407, chiếm 26%; cán bộ là người dân tộc thiểu số có 267/407, chiếm 65,6%.

Có thể nói, với những chủ trương và biện pháp chuẩn bị từ sớm, Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện công tác luân chuyển cán bộ nhằm trang bị kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, ngoại ngữ, quản lý nhà nước, đặc biệt là năng lực hoạt động thực tiễn để từng bước khắc phục tình trạng hẫng hụt cán bộ, đáp ứng yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuẩn bị tốt nguồn cán bộ cho nhiệm kỳ 2020 – 2025 và những năm tiếp theo.

Các đại biểu biểu quyết tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn) lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2020 – 2025_Ảnh: TTTXVN

Xây dựng chỉ tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở mức tích cực và khả thi.

Quán triệt, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, trực tiếp là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII và Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn đã thảo luận kỹ lưỡng và quyết định một số chỉ tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó phần lớn là các chỉ tiêu định lượng về tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số(3). Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020 và năm 2025 cần đạt được là:

Cán bộ trẻ(4): Số cán bộ trẻ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp sở, ban, ngành của tỉnh, vào năm 2020 đạt tỷ lệ 10% trở lên, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 15% trở lên; phấn đấu có cán bộ dưới 40 tuổi tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của tỉnh. Ở cấp huyện, cán bộ trẻ tham gia ban chấp hành đảng bộ cấp huyện năm 2020 đạt tỷ lệ 20% trở lên; tham gia ban thường vụ cấp ủy huyện và tương đương đạt tỷ lệ 15% trở lên, đến năm 2025 đạt 20% trở lên; tham gia các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện năm 2020 đạt tỷ lệ 10% trở lên, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 15% trở lên. Ở cấp xã, cán bộ trẻ tham gia cấp ủy xã năm 2020 đạt tỷ lệ 25%, năm 2025 đạt tỷ lệ 25%; tham gia ban thường vụ và cán bộ chủ chốt cấp xã đạt tỷ lệ 10% trở lên.

Cán bộ nữ: Số cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh năm 2020 đạt tỷ lệ 15% – 18%, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 20% trở lên; tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy năm 2020 đạt tỷ lệ 15% trở lên, đến năm 2025 đạt tỷ lệ 20% trở lên. Ở cấp huyện, cán bộ nữ tham gia ban chấp hành đảng bộ cấp huyện đạt tỷ lệ 25% trở lên, tham gia ban thường vụ huyện ủy và tương đương đạt tỷ lệ 15% trở lên. Các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và tương đương là cán bộ nữ đạt tỷ lệ 15% trở lên. Ở cấp xã, số cán bộ nữ tham gia cấp ủy xã năm 2020 và 2025 đạt tỷ lệ 25%; tham gia ban thường vụ cấp ủy xã và các chức danh chủ chốt năm 2020 và 2025 đạt tỷ lệ tương ứng là 15% và 20% trở lên. Tỷ lệ đại biểu hội đồng nhân dân là nữ ở tất cả các cấp phấn đấu đạt 35% trở lên.

Cán bộ là người dân tộc thiểu số: Vận dụng đúng nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Tỉnh ủy không ấn định tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở các cấp mà quy định có số lượng phù hợp với cơ cấu dân cư và đặc điểm của địa phương, đơn vị. Trên thực tế, do đặc điểm cơ cấu dân cư và cơ cấu đội ngũ đảng viên, nên tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy và giữ vị trí chủ chốt ở các ngành, các cấp trong tỉnh Lạng Sơn nói chung đều cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước và phù hợp với cơ cấu dân cư các địa phương trong tỉnh.

Các chỉ tiêu đề ra như trên đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao để thực hiện của toàn Đảng bộ tỉnh và cần có lộ trình, cách làm phù hợp. Thực tế kiểm nghiệm qua đại hội đảng bộ cấp cơ sở tính đến ngày 25-3-2020, trong số 88 chi bộ, đảng bộ cơ sở đã tiến hành đại hội, kết quả nhân sự cấp ủy viên thực tế đạt như sau: Cán bộ nữ chiếm 33,67%; cán bộ trẻ dưới 35 tuổi chiếm 12%; cán bộ là người dân tộc thiểu số chiếm 67,86%(5).

Những giải pháp cụ thể và đồng bộ cần được thực hiện trong thời gian tới

Với quá trình chuẩn bị và một số kết quả bước đầu như trên, để thực sự đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, xây dựng được đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số dồi dào về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Tỉnh ủy Lạng Sơn xác định tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số phương hướng và giải pháp trọng tâm trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, phải xác định việc quan tâm phát triển đội  ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số là yêu cầu có tính tất yếu khách quan nhằm bảo đảm sức sống và sự phát triển của Đảng, của hệ thống chính trị; là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với một tỉnh miền núi, biên giới, có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số như tỉnh Lạng Sơn. Chính vì vậy, đây phải là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị tỉnh Lạng Sơn, trước hết là trách nhiệm của từng cấp ủy, ban thường vụ và người đứng đầu cấp ủy mỗi cấp. Một mặt, phải tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những nhân tố tích cực trong số cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số để họ thực sự trở thành những người tiêu biểu toàn diện; mặt khác, không dễ dãi, chỉ phấn đấu đạt các chỉ tiêu theo cơ cấu một cách cứng nhắc, mà phải coi trọng hơn việc đáp ứng các tiêu chuẩn của người cán bộ; đặt ra yêu cầu nghiêm khắc và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số tự giác học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên đạt tiêu chuẩn chung và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời với việc đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, Tỉnh ủy chú trọng giáo dục, bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên; từ thực tế công việc giúp cán bộ bộc lộ tư chất lãnh đạo, năng lực quản lý và từng bước trưởng thành qua kết quả công việc cụ thể.

Thứ hai, chú trọng tạo nguồn cán bộ tốt từ đầu vào. Tạo nguồn cán bộ là việc phải làm từ sớm, từ xa, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ qua nhiều năm, suy rộng ra phải bắt đầu từ phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài của tỉnh. Trước mắt, để có được đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số bảo đảm chất lượng và số lượng thì phải rất chú trọng chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ, công chức thông qua tuyển dụng công khai, minh bạch, có cạnh tranh, trên nguyên tắc bình đẳng gắn với thực hiện cơ chế ưu tiên đúng pháp luật để tuyển dụng được số cán bộ, công chức, viên chức trẻ tuổi, là nữ, là người dân tộc thiểu số để bổ sung cho các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn ở cấp xã.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã giao Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành tiếp tục nghiên cứu đề xuất các chính sách thu hút nguồn nhân lực từ đội ngũ sinh viên đại học là người Lạng Sơn, có học lực giỏi trở lên, có phẩm chất tốt, có nguyện vọng về công tác tại tỉnh nhà; trọng dụng những trí thức trẻ đã tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các dự án tình nguyện về trí thức trẻ, có mong muốn cống hiến lâu dài cho địa phương. Tỉnh tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, viên chức thông qua việc cải tiến quy trình, thủ tục, kết hợp hợp lý giữa thi và xét tuyển; thực hiện tuyển dụng theo tiêu chuẩn vị trí việc làm. Đồng thời, Lạng Sơn từng bước có cơ chế sàng lọc, tinh giản biên chế để đưa những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, nhiều năm không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu ý chí phấn đấu ra khỏi bộ máy hệ thống chính trị để nhường chỗ cho những cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đã được đào tạo cơ bản, chính quy, có trách nhiệm và nhiệt tình tham gia công tác.

Thứ ba, làm tốt công tác đánh giá cán bộ trên cơ sở xây dựng tiêu chí đánh giá, tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Trên cơ sở quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, các cấp ủy, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của tỉnh quán triệt và triển khai thực hiện đánh giá cán bộ một cách đồng bộ, chặt chẽ, xuyên suốt, liên tục, đa chiều, gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Xây dựng và thường xuyên cập nhật các quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trên cơ sở đó xác định yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đề bạt; xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, hạn chế tối đa yếu tố chủ quan, khắc phục định kiến hẹp hòi trong đánh giá cán bộ, nhất là đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ. Kết quả quy hoạch cấp ủy các cấp hiện nay được sử dụng để phục vụ trực tiếp cho đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025. Tuy nhiên, để bảo đảm quy hoạch luôn “động” và “mở” với nguồn cán bộ dồi dào, hằng năm cấp ủy các cấp cần thực hiện thường xuyên công tác rà soát, bổ sung quy hoạch, bảo đảm cơ cấu ba độ tuổi, thực hiện trẻ hóa nguồn cán bộ một cách liên tục. Trên cơ sở xây dựng quy hoạch, các cấp ủy đảng đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chú trọng mở các lớp đào tạo cán bộ nguồn cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; khuyến khích các địa phương, đơn vị tiến hành đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu của địa phương, đơn vị mình; đẩy mạnh xã hội hóa trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý nhiệm kỳ 2020 – 2025. Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc; ban thường vụ, ban cán sự đảng các sở, ban, ngành; đảng đoàn các đoàn thể chính trị – xã hội của tỉnh trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh tiến hành xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ theo thẩm quyền phân cấp cán bộ, bảo đảm triển khai ngay từ đầu nhiệm kỳ mới.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các chính sách hiện nay của tỉnh theo hướng phù hợp cho cả ba đối tượng là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, đồng thời có chính sách phù hợp riêng để khuyến khích sự phát triển của từng đối tượng cán bộ này. Đối với cán bộ trẻ, thường là những đồng chí đã được đào tạo khá cơ bản về trình độ chuyên môn, lý luận nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn, vì vậy cần chú trọng xây dựng và thực hiện các chính sách về luân chuyển, như luân chuyển dọc, luân chuyển ngang để cán bộ trẻ trải qua nhiều môi trường công tác; nghiên cứu cơ chế, chính sách hỗ trợ cho cán bộ huyện luân chuyển đến các xã xa trung tâm huyện, khó khăn cả về giao thông và điều kiện làm việc, sinh hoạt; đầu tư xây dựng nhà công vụ cho cán bộ luân chuyển ở các huyện, thành phố… Đối với cán bộ nữ, do thường gặp những khó khăn trong chăm lo cho gia đình hay rào cản về tập quán, về giới, nên cần có những chương trình, dự án nâng cao năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, bảo đảm đáp ứng chế độ hiện hành, tăng cường các chính sách bình đẳng giới,… Đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số, phải thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, cụ thể như ưu tiên trong đào tạo, tuyển dụng và bố trí việc làm theo chế độ cử tuyển; trong đó, một cách làm hiệu quả là phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú từ huyện lên tỉnh, từ đó nâng cao tỷ lệ học sinh là người dân tộc thiểu số được học từ nhỏ trong các trường dân tộc nội trú, coi đây là nơi phát hiện, nuôi dưỡng và rèn luyện những nhân tố tích cực từ sớm, trong tập thể và môi trường giáo dục lành mạnh để có nguồn cán bộ lâu dài.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn Lâm Thị Phương Thanh trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho cá nhân tại Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn lần thứ III năm 2019, với chủ đề: “Các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đoàn kết, phát huy nội lực, hội nhập và phát triển”_Ảnh: TTXVN

Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ gắn với thi đua, khen thưởng và kỷ luật. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các cơ quan, đơn vị, các cơ sở đào tạo cán bộ của tỉnh; kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong công tác chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuẩn bị tốt nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thay thế khi có yêu cầu điều động, luân chuyển hoặc khi có người nghỉ hưu; tăng cường thực hiện các cơ chế kiểm soát quyền lực bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng, phòng, chống tiêu cực trong công tác cán bộ. Đây là việc làm rất có ý nghĩa đối với sự phát triển của đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, bởi nếu ở đâu đó có hiện tượng tiêu cực, mất công bằng diễn ra trong công tác cán bộ thì người bị thiệt thòi “không đến lượt” thường là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số; ngược lại, nếu kiểm soát không chặt chẽ cũng có thể dẫn đến hiện tượng nhiều nơi “viện cớ” cần có cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số để coi nhẹ tiêu chuẩn, thậm chí vi phạm nguyên tắc, quy trình trong công tác cán bộ. Cấp ủy, chính quyền các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cũng cần đẩy mạnh phong trào thi đua, công tác khen thưởng và giữ vững kỷ luật nhằm tạo động lực cho các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số và chấn chỉnh các tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm trong xây dựng đội ngũ cán bộ cho hiện tại và tương lai.

Cần khẳng định, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ tham gia cấp ủy cũng như cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng cho cả hiện tại và lâu dài. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về vấn đề này, vận dụng vào thực tiễn địa phương, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã có những bước chuẩn bị căn cơ về nhiều mặt, xác định rõ chỉ tiêu ở mức cao, đồng thời đã và đang quyết tâm triển khai nhiều giải pháp quyết liệt để xây dựng được đội ngũ cán bộ của tỉnh trong nhiệm kỳ mới đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Quyết tâm đó đang được thực hiện một cách nhất quán và lan tỏa trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới công tác cán bộ của các cấp ủy trong toàn Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn, với tinh thần trách nhiệm cao nhất để chuẩn bị nhân sự và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, góp phần tập trung xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị tỉnh Lạng Sơn ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

Đồng bào các dân tộc thiểu số Lạng Sơn đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, hội nhập và phát triển bền vững

Đồng chí Hồ Tiến Thiệu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh